Hiển thị các bài đăng có nhãn van-hoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn van-hoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

Làng tôi xanh bóng tre

xanh bóng tre, văn hóa việt
Nhạc sĩ Văn Cao
Sáng tác: Văn Cao
Trình bày: Tam Ca Áo Trắng

Làng tôi xanh bóng tre
Từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung
Đời đang vui đồng quê yêu dấu
Bóng cau với con thuyền, một giòng sông.
Nhưng thôi rồi còn đâu quê nhà, ngày giặc Pháp tới làng triệt thôn.
Đường ngập bao xương máu tơi bời, đồng không nhà trống tan hoang.

Chiều khi quân Pháp qua
Chiều vắng tiếng chuông ngân, phá tan nhà thờ xưa.
Làng tôi theo đoàn quân du kích,
Cướp ngay súng quân thù trả thù xưa.
Bao căm hờn từ xa quê nhà, rừng chiều nhớ cánh đồng chiều xưa.
Từ xa quê trông lớp cây già, làng quê còn thấy buồn đau.

Ngày diệt quân Pháp tan,
Là lúc tiếng chuông ngân, tiếng chuông nhà thờ rung.
Làng tôi theo đoàn quân chiến thắng, đánh tan lũ quân thù về làng xưa.
Dân tưng bừng chặt tre phá cầu, cùng lập chiến lũy đào hào sâu.
Giặc chưa tan chiến đấu không thôi, đồng quê chào đón ngày mai.

Làng Tôi

Việt Nam – cái tên được nhắc đến trên bản đồ thế giới không phải từ những điều kiện tự nhiên ưu đãi hay sự phồn thịnh của một quốc gia, hơn hết thảy đây là đất nước được nhắc đến với lich sử đấu tranh anh dũng, kiên cường và lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình độc lập, tự do. Tinh thần ấy, sức chiến đấu bền bỉ ấy đã ghi dấu đậm nét trong các tác phẩm thơ văn và âm nhạc trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Và ca khúc “Làng tôi” của nhạc sĩ Văn Cao là một điển hình thi ca mang sức sống trường tồn của dân tộc với những nét họa sinh động về quãng thời gian chiến đấu gian khổ và chiến thắng vẻ vang như vậy.

Ngay từ tựa đề ca khúc, ai cũng dễ nhận thấy trong tác phẩm này Văn Cao đề cập đến nơi mà sự bình yên luôn ngự trị: làng quê Việt Nam. Và trong những lúc xông pha trận mạc hay những khi cuộc sống bình yên, trong tâm trí bất cứ ai cũng mường tượng ra cảnh thanh bình của làng quê ấy. Và đặc trưng của làng quê mà người ta hay nhắc đến đó là hình ảnh trữ tình với cây đa, bến nước, sân đình, với những lũy tre xanh mát và những cánh cò trắng trên đồng ruộng bát ngát.. Ngoài ra, trong “Làng tôi” còn có một âm thanh mà nhạc sĩ Văn Cao đã nhắc đến xuyên suốt cả tác phẩm, đó là tiếng chuông nhà thờ. Tiếng chuông mà ta bắt gặp ở bất cứ quốc gia, lãnh thổ nào cũng được hiểu như là biểu trưng của sự yên bình và hòa hợp dân tộc. Nói cách khác, ở trong mỗi con người ngoài tình yêu dành cho quê hương, đất nước còn có sự yêu chuộng và cầu phúc hòa bình.
Nơi làng quê hiền hòa ấy cũng như bao làng quê khác, những con người quanh năm chỉ biết đến cày cuốc và niềm vui hội mùa thì giờ đây trong đấu tranh cũng là những con người ấy đã phải tập làm quen với bom rơi đạn nổ, đã biết cầm chắc tay súng mà bảo vệ xóm làng. Trong khi đất nước lâm nguy, mọi sức người đều dồn lên cho mục đích cao cả và hi vọng một ngày mai máu đỏ nhuộm cờ hòa bình. Do đó, bỏ lại sau lưng ngôi nhà mái tranh có người mẹ, người vợ tần tảo, gác lại tình cảm đôi lứa và tình thân gia đình, những người nông dân một thời chân lấm tay bùn nay quyết tâm xông pha chiến trường với chỉ một ý chí nung nấu quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh để giành về độc lập tự do cho Tổ quốc.

Chỉ khi người ta sống trong một giai đoạn lịch sử đầy máu và nước mắt cùng sự hi sinh to lớn ấy, giá trị của một tiếng chuông trong buổi chiều tà càng như thôi thúc và giục lòng người tiếp tục sống, chiến đấu. Dù bao đau thương với chất chồng mất mát ra đi, dù hoang tàn, chia ly ở khắp nơi nơi xảy đến, nhưng quyết tâm trung kiên bắt nguồn từ cốt lõi của lòng yêu nước thương nòi, con dân của làng quê xưa vẫn tiếp tục trường kì gian khổ đấu tranh - “bao xương máu tơi bời”…

Làng tôi xanh bóng tre
Từng tiếng chuông ban chiều,
Tiếng chuông nhà thờ rung
Đời đang vui đồng quê yêu dấu
Bóng cau với con thuyền, một dòng sông.

Anh dũng và quả cảm, tình yêu đất nước và sức mạnh đoàn kết đó là những phẩm chất mà chính chiến tranh đã tôi luyện nên cho bao người con bước ra từ đồng ruộng. ở trong nhạc phẩm “Làng tôi”, Văn Cao đã không nhắc đến bất cứ con người nào cụ thể mà chỉ lấy hình ảnh ngôi làng tựa như người chiến sĩ kiên cường tự biết chiến đấu và chiến thắng bằng lòng căm hận và niềm hi vọng ngày mai tươi sáng, “giặc chưa tan chiến đấu không thôi”..

Trước khi cho ra đời “Làng tôi”, nhiều người vẫn thường nghe nhạc của Văn Cao với những ca khúc tiền chiến lãng mạn như Thiên Thai, Cung Đàn Xưa, Suối Mơ, Bến Xuân, Thu Cô Liêu,.. Đó là một mảng âm nhạc đa sầu đa cảm của trí tuệ hơn người trong cái gọi là cốt cách thi nhân. Cho đến những nhạc phẩm như Sông Lô, Ngày Mùa cũng được sáng tác cùng thời kì sau 1945, âm nhạc của Văn Cao lại chảy trôi theo một bờ dạt dào giai âm cuộc sống và thời cuộc. Và “Làng tôi” làm lay động lòng người cũng bởi lẽ sự giản dị và chân giả chất chứa trong nó khiến người ta phải cảm, phải đặt mình vào tâm trạng nước mất nhà tan mới thấy hết những mất mát, căm hờn lẫn trong tình yêu quê hương và mong ước giành hòa bình. Dẫu thế, chất nhạc trong ca khúc lại không hề bi lụy, tàn thương nếu người ta chỉ bắt gặp đâu đó lời một bài thơ.

“Làng tôi” viết trên nền giai điệu Valse cung đô trưởng nhưng lại thể hiện được nhiều cảm xúc: từ nỗi đau giằng xé quê hương điêu tàn, biến lòng căm thù thành sức mạnh ý chí; từ việc miêu tả một làng quê tươi đẹp bị chiếm đóng tới hành khúc quân dân chung tay chống giặc. Âm nhạc ấy họa trong bức tranh khá nhiều mảng xanh của lũy tre lượn vòng, của tiếng chuông ngân nga thanh bình và có phần nhiều màu xám ảm đạm của chiến tranh.

Cùng với những Ngày mùa, Mùa xuân đầu tiên,.. Làng tôi là một trong những giai điệu Valse đẹp thu hút sự lắng đọng của người thưởng thức âm nhạc Văn Cao. Sự nhẹ nhàng da diết trong ca khúc này cứ theo dòng chảy thời gian mà lặng lẽ kể về làng quê ấy, với những kỉ niệm xa xưa...

Theo: Huy Hoàng

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

Độc đáo: Chợ Chuộng - Đông Sơn Thanh Hóa

Mỗi năm một lần, đến hẹn lại lên, nhân dân quanh vùng Đông Sơn, Triệu Sơn, Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa lại háo hức chờ đến mùng 6 tết đến phiên chợ Chuộng để được “choảng nhau” bằng cà chua, trứng gà. Người nào bị “choảng” nhiều thì năm đó có nhiều may mắn.

chợ chuộng thanh hóa, văn hóa việt nam, nét đẹp thanh hóa

Từ sáng sớm người dân quanh vùng Đông, Triệu, Thiệu đã rồng rắn đến chợ, bắt đầu vào phiên chợ, mỗi người đều mua cho mình một túi cà chua đã chín đỏ làm “vũ khí” để “choảng nhau”. Sau trận “mưa” cà chua, trứng, quần áo nhiều người nào bê bết, vỏ cà chua vung vãi khắp chợ. Ngay cả những công an viên của xã cũng bị “choảng” cà chua.

Chợ Chuộng, họp trên bãi đất rộng khoảng hơn 1000 m2, ven sông Thiều thuộc địa phận làng Giang, xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Cứ vào mùng 6 tháng giêng hàng năm, phiên chợ Chuộng lại diễn ra một lần, nhiều thanh niên đến chợ Chuộng chỉ để … ném cà chua, táo, trứng và những vật mềm khác vào người nhau để mong may mắn sẽ đến, buôn bán có lãi, mùa màng được bội thu.

vẻ đẹp việt nam, văn hóa việt

Người dân đã cất giấu vũ khí trong hàng hóa ở chợ. Giặc nghĩ đây là một phiên chợ bình thường nên mất cảnh giác, khi vị tướng phát lệnh, người dân đã dùng vũ khí giấu sẵn vùng lên khiến giặc không kịp trở tay. Từ đó để tưởng nhớ công lao của vị vua này, hàng năm cứ đến mùng 6 Tết là người dân trong vùng lại về đây họp chợ.

 Theo những người cao niên sinh sống đây thì, không ai biết chợ có từ bao giờ, nhưng năm nào cũng họp một lần vào ngày mùng 6 tết, dù mưa, hay nắng đều đến chợ rất đông, chủ yếu vẫn là nam thanh, nữ tú đến đây để giao lưu. Chợ họp từ rất sớm đến khi hết người mới kết thúc, có năm đến tối mịt mới hết chợ./

Cây tre Văn hóa

 Ở đâu người ta cũng có thể thấy cây tre trên đất Việt, nó được gắn bó với cổ sử trong việc giữ gìn khỏi ngoại xâm, trong tay của vị Thánh Gióng. Nó được hình tượng trong văn hoá làng xóm bằng luỹ tre làng, nó được nhân hoá là con người chính trực, nó biểu trưng sức mạnh dẻo dai của con người dưới thử thách.

Không riêng gì tại Việt Nam, có thể thấy tại Nhật Bản, cùng với thông và mận, tre là một trong ba cây báo điềm lành.

Tại Trung Hoa, cây tre là một trong những yếu tố chính của hội họa đời Tống, phái Thiền tông trong Phật Giáo lấy nó để chiêm niệm về cành lá vô ưu, từ đó có ảnh hưởng nhiều trên tranh thuỷ mặc. Giống như nghệ thuật Zen của Nhật Bản, tại Trung Hoa các thiền sư vẽ tre không chỉ là một nghệ thuật: còn là rèn luyện tinh thần, tập chú để đổ rỗng, chú tâm để nhập định. Cây tre với hình thức tuyệt vời của nó: Dáng thẳng tắp chẳng có gì so sánh nổi, trong tư thế phóng lên trời với lòng không (rỗng đốt).

Cây tre trong đó có thể tìm gặp thấy hai ưu điểm, mềm mại như cánh hoa hồng, đó là nhân đức của tình thương; cứng rắn như kim cương, nhân đức của một con người tuân theo kỷ luật. Nó còn là hình ảnh của shunyâta, sự trống rỗng của trái tim - với Phật giáo, thậm chí với Đạo giáo, là biểu tượng của các đặc tính và mục đích của việc tu luyện. Trong thiền quán, người ta còn đọc ra nơi cây tre một dấu chỉ của sự bình an nội tại, bình an trong tâm hồn của chính mình để bình an cho khắp cả thiên hạ, sự bình an của nó biểu trưng nơi “cành lá vô ưu”.

Có một điều khác cũng không nên quên sức gợi của tiếng tre kẽo kẹt, một vài bậc hiền minh coi là tín hiệu của sự thông tuệ. Thiền sư Obaku Taiho (1691-1774) người Trung Hoa di cư sang Nhật Bản 1722, người chuyên vẽ về cây tre, ông đã đưa cây tre vào trong thiền quán với những dòng thư pháp một cách linh hoạt để gợi nhắc định tâm. Trong tác phẩm “Tre trong tuyết” được tác giả vẽ bằng mực trên lụa, vừa mềm mại vừa tỏ tính kiên trung dưới trời giá rét, những cành lá bắt chéo nhau như vòng tay nguyện cầu, song cũng có những chiếc lá đứng thẳng trên trời không, cũng giống như bàn tay khấn cầu đưa lên trong sự thống thiết. Những nét vẽ như một ngôn ngữ đích thực, với những gam màu, sự hoà quyện không gian và thụ tạo, chỉ bằng trực giác tinh tuyền mới có thể đạt đến được.

Tại nhiều miền văn hoá khác nhau, trong rừng sâu, người ta dùng tre để đốt lửa đuổi thú dữ, xua đuổi tà khí, nhờ những tiếng nổ từ những đốt tre nổ tung do bị bịt kín trong khi đốt làm nên những tiếng nổ xua đuổi.

Thường bụi tre rậm cũng biểu trưng cho sự trở ngại cổ điển, thường thấy trong tranh hình vẽ khu rừng tội lỗi mà chỉ có con hổ, biểu tượng quyền năng tinh thần của đạo Phật, mới vượt qua được. Một văn bản đời Đường đồng nhất cây tre với con rắn, hình như tre biến thành rắn là việc dễ dàng (hẳn là theo nghĩa lành).

Đối với người Bamoun và người Bamiléké, một khúc tre gọi là Guis (nụ cười) là một biểu tượng của niềm vui, niềm vui giản dị được sống, không bệnh tật, chẳng ưu tư.

Trong thời kỳ đồ đá, thanh tre được hơ cho rắn lại để làm nên những dụng cụ sắc bén, để cắt, để săn thú và có khi dùng để chặt. Công dụng của cây tre thì nhiều vô kể, cây tre làm nhà, làm giường làm tủ, làm rổ làm rá, cây tre dùng để câu cá, để làm bẫy, làm rọ, làm nơm… Trong văn hoá thì dùng làm bút, than làm mực, thanh tre làm bản ghi, làm tranh khắc… Cây tre trở thành mặt hàng công nghiệp xuất khẩu với các mặt hàng Mây, Tre, lá. Tính năng đa dạng của cây tre nói lên tinh thần tháo vát của người Việt từ bao đời nay. Không có khó khăn nào mà không vượt qua được. Nó đại diện cho sự chân thành mà không sáo rỗng, nó dùng để làm thân nhang tỏ niềm tri ân, nó dùng để làm nên ống để dẫn nước về làng, dùng làm nồi để nấu cơm, nướng thịt… Khắp cả cuộc sống cây tre đều có mặt, đơn giản nhưng không thể thiếu. Mộc mạc nhưng không thể vắng. Nó bao hàm nhiều tính chất tâm hồn thầm lặng mà kiên trung.

Nhiều nơi trên vùng cao nguyên, người dân tộc tại Việt nam dùng nó như những thanh nhạc làm nên chiếc đàn Tơ- rưng, dùng trong lễ hội. Là nhạc khí, cây trúc, được khoét rỗng, để bịt lại một đầu, làm nên cây sáo trúc, trẻ em chăn trâu thường dùng thổi những khúc nhạc đồng quê. Chỉ ở đây thôi, với những nhạc khí làm bằng tre đã thấy biểu lộ sự yên bình của một cõi tu trải dài trên Đất Việt.

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Vẻ đẹp phố cổ Hội An

Hội An trở thành dấu son trên bản đồ du lịch không phải chỉ là những ngôi nhà cổ hay không gian hoài niệm. Nơi ấy có bề dày vẻ đẹp văn hóa đa dạng của thương cảng cổ từng ghi dấu mối giao lưu, tiếp biến nhiều nền văn hóa. Nơi đó là sự hòa trộn sự trải nghiệm cùng nết ăn, ở và sống, vui giữa thiên nhiên mơ mộng hay giữa những người từ làng hay lên phố.

Những chiếc đèn lồng lung linh, sắc nâu của nhà cổ và cả những đôi dép cói là hình ảnh đặc trưng của phố cổ Hội An (tỉnh Quảng Nam). Đi dạo trên xe đạp, trong sớm mai hay những buổi chiều tà, bạn sẽ có cảm giác bình yên.

đèn lồng hội an, vẻ đẹp Hội an, vẻ đẹp việt
 Đèn lồng và xe đạp là hình ảnh quen thuộc ở Hội An.

nhà cổ hội an, vẻ đẹp Việt nam
Sắc nâu của nhà cổ, sắc đỏ của đèn lồng và màu xanh miên man của bầu trời.

Góc phố Hội an, vẻ đẹp Hội An
Du khách có thể tự tay làm một món quà tặng người thân.

đèn lồng Việt nam, vẻ đẹp Hội an
Ban ngày, đèn lồng rực rỡ khắp nơi…

chiều Hội an, vẻ đẹp chiều
… và lung linh khắp những con phố nho nhỏi xinh xắn.

Dãy phố hội an, nét đẹp Việt
Dạo phố bằng xe đạp cũng đem lại những niềm vui riêng.

Ngôi nhà cổ, việt nam độc đáo
Góc phố này đã xuất hiện trong phim : "Dòng máu anh hùng”.

sông nước Hội an, vẻ đẹp Hội an
Bạn có thể ngồi bên bến cảnh Hội An, ngắm nhìn những con thuyền lững lờ lướt qua.

tranh ảnh, nét đẹp Hội An, Việt nam
Hình ảnh con người Hội An được thể hiện ở những bức tranh bán tại các gallery ở Hội An.

dép Hội an, tre xanh Việt nam, vẻ đẹp Việt
Ngoài đèn lồng, những đôi dép cói cũng được du khách chọn làm quà cho người thân.

Không phải ngẫu nhiên Hội An luôn được bình chọn vào top 10 điểm du lịch hấp dẫn nhất thế giới, bởi sở hữu cùng lúc các giá trị tổng hợp về biển, đảo và ẩm thực đường phố ngon thuộc hàng danh tiếng. Nhưng, chính công sức của nhân dân, những chủ nhân thực sự của di sản mới thực sự làm nên thương hiệu du lịch Hội An! Sức hấp dẫn của món bánh xèo, của mỳ Quảng, cao lầu... đã ngon miệng, no mắt lại càng làm say lòng người. Còn biển, đảo hoang sơ hút hồn vì sự sạch sẽ và nụ cười tươi tắn, thân thiện luôn nở trên môi người phố cũ…

Theo: Vnexpress

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

Bài học từ Cây Tre trăm đốt

Cây tre trăm đốt, tre xanh việt nam
Cây tre trăm đốt
Việt Nam có một kho tàng truyện cổ dân gian khá phong phú. Các đề tài thường được khai thác trực tiếp từ những sinh hoạt thường nhật của người Việt xưa. Mỗi câu chuyện thường chứa đựng trong nó một hoặc nhiều thông điệp tâm linh sâu sắc. Trong đó những giá trị nhân văn căn bản như đề cao sự chân thật, hướng đến điều thiện, bài trừ sự gian trá ,xảo quyệt, tiêu diệt cái ác...thường được lấy làm trọng tâm.

Một câu chuyện được nhiều người Việt biết đến đã thể hiện được cách nhìn nhận của người Việt xưa về “thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo” (*). Câu chuyện với tên gọi truyện “Cây tre trăm đốt” kể về một chàng nông dân nghèo tên Khoai. Ngay từ khi còn nhỏ, do nhà nghèo Khoai đã phải chịu làm thuê cho một địa chủ giàu có trong vùng. Tính Khoai ngay thẳng, thật thà lại làm việc chăm chỉ, siêng năng, không ngại khó ngại khổ nên anh được nhiều người quý mến. Tay địa chủ thuê anh vốn là một kẻ nham hiểm, xảo quyệt. Biết anh Khoai được nhiều người để ý, có thể bị một địa chủ khác mời chào nên hắn nghĩ ra một kế để giữ chân anh Khoai ở lại lâu dài với hắn. Hắn nói với anh Khoai rằng hắn hứa sẽ gả cô con gái út của hắn cho anh khi cô con gái đến tuổi lấy chồng nếu như anh đồng ý làm việc chăm chỉ cho hắn trong mấy  năm tới. Anh Khoai thật thà tin tưởng lời hứa đó và mỗi ngày đều cố gắng làm hết mọi việc thật tốt cho tên địa chủ.

Nhiều năm qua đi, đến khi con gái út của địa chủ đến tuổi lấy chồng , tên địa chủ đã tráo trở hứa hôn con gái lão với một tên công tử giàu có khác ở làng bên. Khi Khoai tìm đến hỏi lão về lời hứa năm xưa, bụng dạ thâm độc của tên địa chủ lại nghĩ ra một mưu kế khác để lừa anh Khoai. Hắn vờ vỗ về Khoai và đặt ra một điều kiện thử thách, yêu cầu anh Khoai vào rừng chặt về cho hắn một cây tre có một trăm đốt tre để làm lễ cưới. Chàng Khoai ngây thơ và cả tin lại một lần nữa xách dao vào rừng tìm đốn cây tre trăm đốt.

Nhiều ngày trôi qua lùng sục khắp núi rừng ,Khoai vẫn chưa tìm được cây tre nào có đủ trăm đốt để chặt về cho tên địa chủ. Đến lúc này Khoai mới sực tỉnh ngộ và nhận ra rằng mình đã bị tay địa chủ lừa vào rừng đốn cây tre mà tên địa chủ vốn đã biết trước là không thể nào có. Cay đắng và buồn tủi sau nhiều năm chịu khổ nhục mà chẳng được gì, Khoai chỉ còn biết ôm mặt mà ngồi khóc.

Ngay khi đó, một ông lão dáng người phúc hậu đi đến và hỏi thăm anh Khoai vì sao anh lại khóc. Khoai thành thật kể rõ sự tình. Ông lão nghe xong khẽ mỉm cười và bảo anh Khoai “Con hãy chặt về đây cho ta một trăm đốt tre rồi ta sẽ giúp con”. Nhanh nhẹn và tháo vát, Khoai chặt một loáng về đủ một trăm đốt tre cho ông lão. Lúc này ông lão khẽ đọc “khắc nhập, khắc nhập” (**) thì kì diệu thay một trăm đốt tre rời gắn liền lại với nhau thành một cây tre có đủ một trăm đốt. Ông lão đọc tiếp “khắc xuất, khắc xuất” (***) thì ngay lập tức một trăm đốt của cây tre tự tách rời nhau ra. “Con là một người lương thiện, ta tặng con hai câu thần chú này”, ông lão nói với Khoai. Anh Khoai khi đó mới nhận ra ông lão kia là một bậc thần tiên hiện ra giúp đỡ, anh chân thành dập đầu tạ ơn ,sau đó bó một trăm đốt tre mang về.

Anh Khoai về đến sân nhà tên địa chủ thì đúng ngay lúc tên địa chủ đang cho hai họ tổ chức lễ ăn hỏi giữa con gái út của lão và công tử giàu có làng bên. Khoai đi thẳng đến trước mặt tên địa chủ và nói anh đã tìm được cây tre trăm đốt, đang để ngoài sân, anh muốn tên địa chủ thực hiện lời hứa. Tên địa chủ xảo quyệt cười khinh khỉnh không tin và sau khi ra sân nhìn thấy bó tre hắn càng khoái trá cười lăn lộn. “Tao bảo mày tìm cây tre trăm đốt chứ có bảo mày chặt một trăm đốt tre đâu”, hắn cười nhạo báng Khoai. Nhiều người họ hàng tham dự, cùng bọn nhà giàu làng bên trước tình cảnh đó cũng hùa theo tên địa chủ mà thay nhau nhục mạ Khoai. Thay vì phải tỏ ra bất bình trước sự trí trá lật lọng của tên địa chủ, một số còn ủng hộ và lấy Khoai ra để làm một tên hề mà nhạo báng.

Khoai khi đó mới khẽ đọc “khắc nhập, khắc nhập” và liền tức thì một trăm đốt tre gắn liền lại với nhau thành một cây tre dài trăm đốt. Điều kì lạ hơn là cả tên địa chủ và rất nhiều người lúc nãy vây quanh bó tre mà thay nhau cười nhạo anh Khoai cũng đều bị dính liền chung với một trăm đốt tre kia. Cả một đám người bấy giờ chuyển sang kêu la, than khóc van xin anh Khoai thả xuống khi mà cây tre dựng đứng lên cao vót. Vẻ mặt tên địa chủ cùng đám người hùa theo tái mét kinh hãi. Cả đám bị treo lủng lẳng trên thân tre một lúc lâu. Khoai khi đó hỏi lại tên địa chủ về lời hứa gả con gái cho Khoai. Tên địa chủ sợ hãi xin tha và nói sẽ lập tức thực thi lời hứa. Anh Khoai khẽ đọc tiếp “khắc xuất, khắc xuất”, cây tre tách rời ra một trăm đốt và đám người kia được thả lại xuống đất. Khoai cuối cùng cũng đã cưới được cô gái út đúng như những gì anh xứng đáng được hưởng.

Câu truyện trên đã có một kết thúc tốt đẹp. Người lương thiện sẽ nhận lại được sự hạnh phúc sau khi trải qua nhiều khổ nạn. Kẻ ác tâm cuối cùng cũng sẽ phải nhận lãnh sự trừng phạt. Tên địa chủ tượng trưng cho điều bất hảo. Chúng ta ,ngay trong chính xã hội hiện đại văn minh này, thường xuyên cũng bắt gặp khá nhiều kẻ giống như tên địa chủ trong truyện, và cũng không lạ khi chúng ta cũng bắt gặp rất nhiều người dù biết là điều xấu ác nhưng vẫn hùa theo ủng hộ mà hắt hủi lại những con người lương thiện. Tuy nhiên mọi việc chúng ta chọn lực và thực hiện hôm nay đều sẽ phải nhận lại báo ứng trong ngày mai. Chúng ta đứng về lẽ phải, về điều thiện, về sự nhẫn nại vươn lên thì chúng ta sẽ có được tương lai hạnh phúc. Chúng ta chọn cái xấu ác hay đứng sang ủng hộ cho cái xấu ác mà làm hại người lương thiện thì chúng ta sẽ nhận lại điều bất hạnh cho chính mình trong tương lai.

Tuy vậy, như trong đoạn kết câu chuyện, anh Khoai vẫn đọc câu thần chú “khắc xuất, khắc xuất” để giải phóng những kẻ xấu bị treo trên cây tre trăm đốt sau khi họ đã tỏ ra hối cải. Lúc nào cũng vậy, luôn vẫn còn có một lựa chọn mang tính thiện giải cho mọi sự. Nhưng điều này cũng chỉ có thể xảy đến cho những ai biết ăn năn hối cải kịp lúc trước khi quá muộn.


(*) thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo : người làm điều thiện sẽ nhận lại được điều thiện, người làm điều ác sẽ nhận lại được cái ác.
(**) khắc nhập, khắc nhập : nhập lại ngay tức khắc, nhập lại ngay tức khắc
(***) khắc xuất, khắc xuất : xuất ra ngay tức khắc, xuất ra ngay tức khắc

Bóng tre trùm mát rượi

tre việt nam. vẻ đẹp việt nam
Lũy tre

Mỗi khi nghĩ tới quê hương trong tâm trí mỗi người Việt Nam ta lại hiện lên thấp thoáng những cánh đồng với cánh cò bay lả bay la, với những lũy tre làng tỏa bóng râm mát, với cánh võng trưa hè kẽo kẹt gió đưa, với hàng cau bên hiên nhà thoảng đưa hương dìu dịu…

 Từ xa xưa, cây tre đã gắn bó với cảnh vật, với nếp sống, nếp nghĩ và cả nếp văn hóa Việt Nam bình dị mà đầy sức sống, dẻo dai mà cứng cỏi trước gió bão thiên tai, trước trộm đạo, giặc cướp, giặc ngoại xâm- nhân tai. Làng quê Việt Nam với những rặng tre rợp bóng quanh làng,nghiêng xuống nơi bờ ao tạo nên nép đẹp bình yên. Không thể kể hết sự gần gụi và tính đắc dụng của tre đối với người nông dân Việt Nam. Tre làm nhà cửa- vì kèo, phiên liếp, vách tường… Tre làm vô số vật dụng cho nhà nông – cán cuốc, cán dao, cái bừa, cái cào, cái ách quàng lên cổ con trâu, cái cần câu, cái vó cất tôm cất tép, cái đơm cái đó, cái bè cái mảng, cái đòn gánh cong cong, đôi quang gánh đung đưa cho bà cho cô đi chợ, cho nặng trĩu bó mạ, gánh phân ra đồng, cho lúa chín mẩy mình chắc hạt từ đồng về nhà. “ Cối xay tre ngàn đời quay xay nắm thóc” Cầu ao tre cho người giặt giũ, cho trẻ nô đùa tắm mát. Cầu tre bắc qua con mương, con kênh. Mấy nhịp cầu tre để đôi lứa yêu nhau, cởi áo cho nhau về nhà mẹ hỏi – qua cầu gió bay. Khung cửi tre, cái xa quay sợi để “ bên anh đọc sách bên nàng quay tơ”. Tình yêu, hạnh phúc lứa đôi của người lao động thật giản dị, đơn sơ mà tha thiết, thủy chung làm sao. Tre từng được dùng để làm ra các đồ gia dụng trong nhà. Nhỏ bé như cái tăm tre, mỏng mảnh như cái lạt mềm buộc chặt. Rồi rổ, rá, giần, sàng, cái rế đựng nồi, cái gáo múc nước. Thoáng đãng mà chắc chắn là cái chạn tre. Thoáng đãng mà mát mẻ là cái chõng tre, cái quạt nan tre, để rồi vợ chồng như đũa có đôi…Những triền đê được giữ vững trước nước lụt, bão tố, ngoài phần công sức của con người đóng cọc tre, gánh đất đá đắp bồi nên những con đê, còn có công sức của bụi tre giữ đất, chống xói mòn. Khi đất nước có giặc ngoại xâm những bụi tre đằng ngà, những cung, nỏ, bàn chông, gậy tầm vông vạt nhọn đã là chứng tích đi vào lịch sử. Những chiều quê êm ả, cánh diều trẻ thơ, tiếng sáo chăn trâu gọi ta về với quê cha đất tổ. Ấm áp thay là quê hương. Sâu nặng thay là quê hương. Ngay Tết giá như ta còn ông bà để trở về quê. Tết quê xưa, ngày cuối năm hay còn gọi là bữa trừ tịch trước cửa nhà dựng một cây tre, trên buộc giỏ bằng tre, trong giỏ bỏ trầu cau vôi, bên giỏ có giấy vàng giấy bạc. Người xưa treo lên cây nêu nào là khánh là chuông nhà Phật, để cho biết ở đây có Phật độ trì ma tà quỷ dữ tránh xa, bình an đến với mọi nhà. Ngay 7 tháng Giêng hạ cây nêu, gọi là triệt hạ. Bao nợ nần, bao tranh dành trong khoảng thời gian này tạm gác, đợi qua ngày hạ nêu. Giữa bao thiết bị, vật dụng hiện đại hôm nay, ta vẫn gặp đâu đó, không nhiều, những đồ dùng bằng tre. Nhưng cây nêu ngày tết không còn nữa. Một mỹ tục đậm bản sắc dân tộc, một hành vi mang nhiều ý nghĩ tốt đẹp, hướng con người đến với cái thiện như thế đã vắng bóng.

Cây tre cứng mà mềm mại, uốn cong mà vẫn thẳng thắn, đổ mà không gãy, lá nhỏ mà bóng rợp, luôn vươn lên xanh tươi dù ở nơi đất cằn sỏi đá. Tre không sống lẻ loi mà cả bụi tre, rặng tre, có măng tre, búp tre tay tre, cây tre già, cây tre đực. Gốc liền gốc, rễ đan vào rễ. Trước cuồng phong, thân tre uốn lượn, quăng lên quật xuống theo chiều gió. Tre chịu trốc cả gốc rễ, ngã xuống cả thân cây, bụi cây.Tre, trúc tượng trưng cho mẫu người quân tử theo quan niệm của các nhà nho phương Đông. Cây tre là một biểu tượng điển hình của nguyên lý cương nhu phối triển, của một nhân cách, một lối sống cao thượng, nhân hòa. Lòng tre rỗng không được ngăn cách với bên ngoài bằng từng đốt tre bịt kín. Tâm của người quân tử trong sáng, không chứa đựng một vọng niệm ác ý nào như tâm của cây tre vậy.                               

Có mặt ở nhiều nước châu Á từ xa xưa,cây tre cũng gắn bó thân thiết với người dân Việt từ ngàn năm rồi. Cây tre là biểu trưng cho tính chất bản sắc riêng của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Cuộc sống sẽ ra sao nếu thiếu vắng cây tre? Cuộc sống đã hiện đại mà sẽ ngày một hiện đại. Thành phố đang trải dài, mở rộng. Các khu đô thị, khu công nghiệp đang mọc lên trên những cánh đồng. Những nhà ngói, nhà tầng đang thay dần ở nông thôn. Xi măng, sắt thép, gạch đá là nguyên vật liệu xây dựng nhà cửa. Đồ gỗ, đồ dùng nhôm nhựa đa dạng, tiện lợi trong sinh hoạt hàng ngày. Phạm vi sử dụng của tre thu nhỏ lại. Những con đường liên thôn, liên xã, nối liền các huyện đã và đang được bê tông hóa hình như không phù hợp với nhứng rặng tre làng. Bóng tre nhỏ đi. Cây tre gần gũi thân thiết bao đời nay người quên kẻ nhớ. Chen giữa những ồn ã phố phường, giữa bao bụi bặm công nghiệp, cây tre – những sản phẩm từ tre vẫn một vóc dáng riêng. Nhiều nước châu Á vẫn phát triển trồng tre và chế biến tre. Tre bảo vệ môi trường, chống xói mòn đất, chống xói lở bờ sông. Tre mọc ken dày có thể giảm cường độ của gió, giảm sự tàn phá của những cơn bão và gió lốc. Nước ta cũng như nhiều nước quanh vùng đang sử dụng các cây thuộc họ tre làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy. Tre đã được sử dụng làm những căn nhà cao tầng cùng với các loại vật liệu khác.Nhà kính khung tre, bàn máy tính bằng tre, ván trượt lướt sóng bằng tre và quen thuộc hơn cả vẫn là đồ dùng nội thất bằng mây tre. Bàn ghế, giừơng tủ tre nhiều kiểu dáng sinh động, trông thanh mảnh mà cứng cáp vẫn được dùng trong gia đình và xuất khẩu. Người dùng đồ đạc bằng tre mang nhiều chất nghệ sĩ trong cách sống của mình. Một căn phòng với bàn ghế tre,  chụp đèn đan bằng tre, trải chiếu cói, cắm hoa sen trong lọ sành…một phong cách riêng ấn tượng. Một quán ăn buông mành tre, ốp tường tre, chõng tre, chiếu cói, cả đến khung ảnh trên tường, đèn lồng…tất cả đều sử dụng vật liệu dân gian tạo một cảm giác ấm áp khó quên. Nhu cầu về tre hạn hẹp lại nhưng tinh xảo hơn. Hình tượng cây tre là nguồn cảm hứng bất tận để người nghệ sĩ gửi gắm tâm hồn và tư duy sáng tạo nghệ thuật. và tranh tre là một loại hình như vậy. Các tranh dân gian như Đánh ghen, Đám cưới chuột, Hứng dừa, đấu vật, tranh tứ quý, phang cảnh, tĩnh vật... được cắt hình tạo mẫu bằng tre. Phong cảnh đồng quê, các cảnh sinh hoạt nông thôn cũng được các nghệ nhân đưa vào tranh tre tạo nên những nét đẹp mới. Tranh tre đem đến cảm xúc thân thuộc, bình dị, đem lại sự tĩnh lặng, thư thái hồn người. Một số loại tre trúc được trồng làm cây cảnh thu nhỏ trong chậu, thu nhỏ nơi góc hòn non bộ. Cái tăm tre nhỏ xíu vẫn được ưa chuộng nhiều nhất dẫu bây giờ đã có tăm gỗ, tăm nhựa. Dóc tăm ra xỉa kẽ răng, cọ chân răng thường xuyên như các cụ ta xưa thì răng vẫn trắng đẹp. Rồi còn nữa lạt tre gói bánh chưng xanh quanh năm và ba ngày tết, cái giần,cái sàng cho hạt gạo nhà nông, chiếc đòn gánh cho người lao động. Cái đòn gánh của “ cái cò lặn lội bờ sông / gánh gaol đưa chồng tiếng khóc nỉ non” trong ca dao xưa vẫn tảo tần trên đôi vai người phụ nữ. Cải mảnh đòn tre dẻo bền, êm ái không gì thay thế được. Cái gánh khó gánh nghèo theo mẹ theo chị trên đồng, trên chợ, ra ngoài thành phố nhẫn nhịn nuôi cái cùng con. Xin hãy nhẹ tay khi giằng đi, quằng đi cây đòn gánh buốt đôi vai, bóng mồ hôi của mẹ kiếm tiền nuôi cái chữ cho con nên người. Xin hãy đừng quên ta vốn gốc người nhà quê kẻ chợ, bờ ruộng, nếp nhà, bóng mát bụi tre. 

Việt Nam, đất nước bốn mùa xanh tươi cây cối. Ngàn con mắt lá, ngàn tiếng rì rào. Cây nói lời của mình với mỗi chúng ta. Cây tre Việt nam, tiếng nói Việt Nam đưa ta về với cội nguồn, với giản dị, yêu thương.

Theo: Bùi Kim Anh

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2013

Vẻ đẹp Việt Nam xưa qua những tấm ảnh màu quý giá

Những thước phim và những bức ảnh quý báu về Vẻ đẹp của Việt Nam xưa.

Trong thập kỷ 1910-1930, nhà tài phiệt người Pháp Albert Kahn đã cử nhiếp ảnh gia tới khắp 5 châu, ghi lại hình ảnh sinh hoạt của người dân các nước. Họ đã đặt chân tới Việt Nam và lưu lại những hình ảnh, thước phim quý hiếm.

Albert Kahn (1860 – 1940) là một ông chủ nhà băng nổi tiếng người Pháp gốc Do Thái. Ông cũng được biết tới là người từ tâm và có đam mê đặc biệt với các vấn đề văn hóa – giáo dục trong giới kinh doanh lúc bấy giờ. Khoảng những năm đó ông cũng đã có mặt tại Việt Nam.

 Đây là một tài sản quý giá bởi ở thời kỳ này người ta vẫn chủ yếu chụp ảnh đen trắng và những tác phẩm ảnh màu dưới đây là những bức hình hiếm hoi ghi lại cuộc sống từ những thập niên xa xôi 1910-1930 bằng những hình ảnh, thước phim màu.



Các bức ảnh ấn tượng của nhiếp ảnh gia Albert Kahn tại Việt Nam trong khoảng những năm 1915 - 1921:



vẻ đẹp việt nam, ảnh đẹp việt nam
Bà đồng (1915)

nét đẹp Hà nội, cầu long biên, vẻ đẹp cổ xưa
Cầu Long Biên (1915)

vẻ đẹp làng quê xưa, vẻ đẹp việt
Các hương chức trong ngày hội làng

Vẻ đẹp làng quê, vẻ đẹp xưa, nét đẹp việt nam
Các hương chức hội bàn công việc

nét đẹp văn hóa, vẻ đẹp việt nam
Quan thống sứ Bắc kỳ bên vợ và 4 người con

vẻ đẹp Vịnh Hạ Long, nét đẹp văn hóa
Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long

vẻ đẹp hà nội, văn hóa truyền thống
Phố Hàng Gai

vẻ đẹp Hà nội, hàng thiếc, vẻ đẹp việt nam
Phố Hàng Thiếc

vẻ đẹp thôn quê, nghê thuật việt nam
Những gánh hàng xén

văn hóa việt nam, nghệ thuât
Ông đồ

vẻ đẹp Hà nội, phố tràng tiền, văn hóa hà nội
Phố Tràng Tiền

Vẻ đẹp miền Bắc, nét đẹp nghệ thuật
Quan Bắc kỳ trong phẩm phục nghi lễ

vẻ đẹp sông Hồng, sông Hồng Việt Nam
Một góc sông Hồng

sông Hồng Việt nam, vẻ đẹp Hà nội
Góc khác sông Hồng

phụ nữ hoa, vẻ đẹp Việt Nam
Người phụ nữ Hoa say thuốc phiện

vẻ đẹp văn hóa, nghệ thuật
Hai quý ông đang say thuốc
nét đẹp phụ nữ, vẻ đẹp việt nam
Phụ nữ Việt Nam

Nghệ thuật Múa rối nước truyền thống

nghệ thuật rối nước, nghệ thuật truyền thống
Nghệ thuật múa rối nước

Từ xa xưa, con người và thiên nhiên luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ cho nhau. Con người đã biết dựa vào thiên nhiên để sản xuất và đồng thời cũng là để sáng tạo ra những loại hình nghệ thuật độc đáo. Miền đồng bằng châu thổ sông Hồng là cái nôi sinh ra nghệ thuật múa rối nước. Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống, một sáng tạo đặc biệt của người Việt. Ra đời từ hơn 10 thế kỷ trước ở vùng châu thổ sông Hồng, loại hình này thường diễn vào dịp lễ, hội làng, ngày vui, ngày Tết bằng việc dùng con rối diễn trò, diễn kịch trên mặt nước. Thông qua những tiết mục biểu diễn, du khách sẽ thấy được những cảnh sinh hoạt, đời sống tinh thần và vật chất truyền đời của người nông dân Việt Nam.

Theo nhiều nguồn tư liệu khác nhau, múa rối nước ra đời vào triều đại nhà Lý (1010 - 1225). Theo thời gian, nghệ thuật múa rối nước được truyền từ đời này sang đời khác, dần dần trở thành một thú chơi tao nhã của nhân dân ta trong các dịp lễ hội. Và đến nay, múa rối nước đã trở thành một loại hình nghệ thuật truyền thống trong dân gian, cần được gìn giữ, bảo tồn và phát huy.

So với múa rối thông thường, múa rối nước mang nhiều đặc điểm khác như: dùng mặt nước làm sân khấu; buồng rối nước hay còn gọi là thủy đình với cấu trúc cân đối, tượng trưng cho mái đình của vùng nông thôn Việt Nam là sân khấu biểu diễn trò rối nước.

Ðể làm được một con rối hoàn chỉnh, phải trải qua rất nhiều công đoạn từ đục cốt đến trang trí hóa trang và rất nhiều công đoạn mà người nghệ nhân không thể bỏ qua. Quân rối càng hoàn hảo, càng giúp cho kỹ xảo điều khiển nâng cao, khả năng diễn đạt phong phú. Quân rối nước làm bằng gỗ tốt sẽ nặng và chìm, trên thực tế, gỗ sung là chất liệu thông dụng để tạc con rối, vì loại gỗ này nhẹ lại dai, rất dễ điều khiển trong khi biểu diễn dưới nước.

Sau khi con rối được tạc với những đường nét cách điệu riêng, chúng được đầu óc tinh tế của các nghệ nhân thổi vào luồng sức sống mới bằng cách gọt giũa, đánh bóng và trang trí với nhiều màu sơn khác nhau để làm tôn thêm đường nét tính cách cho từng nhân vật, làm cho nhân vật được đặc sắc hơn, trong sáng hơn trước người xem. Quân rối nước chính là sản phẩm của nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian, nó vừa giàu tính hiện thực, vừa mộc mạc, đằm thắm, trữ tình.

Ta có thể gặp ở đây khá nhiều đồ dùng thường ngày của nghề lúa nước mà người nông dân tự làm ra như thừng, sào, vọt... để làm máy điều khiển quân rối. Máy điều khiển rối nước có thể được chia làm hai loại cơ bản: máy sào và máy dây đều có nhiệm vụ làm di chuyển quân rối và tạo hành động cho nhân vật. Máy điều khiển được giấu trong lòng nước, lợi dụng sức nước, tạo sự điều khiển từ xa, cống hiến cho người xem nhiều điều kỳ lạ, bất ngờ khó lý giải. Người nghệ nhân rối nước đứng trong buồng trò để điều khiển con rối. Họ thao tác từng cây xào hoặc giật con rối bằng hệ thống dây bố trí ở bên ngoài hoặc dưới nước. Ngâm bùn lội nước để làm nghệ thuật không phải là một công việc bình thường thích thú với mọi người. Nếu không phải là người sống ân tình với nước tới mức "Sống ngâm da, chết ngâm sương" như cư dân trồng lúa nước, thì khó có được sự truyền cảm nồng nhiệt vào hành động của nhân vật rối nước.

nét đẹp truyền thống, tre xanh việt nam
Một cảnh diễn trong múa rối nước
Ngoài ra, một yếu tố không thể thiếu trong chương trình biểu diễn múa rối nước là âm thanh. Trước đây, biểu diễn múa rối nước thường ở sân khấu ngoài trời giữa ao hồ, nên rối nước cần âm thanh mạnh để giữ tiết tấu và khuấy động không khí buổi diễn. Các bộ nhạc, bộ gõ dân tộc thường được sử dụng trong múa rối nước là trống cái, não bạt, mõ, pháo, tù và ốc. Âm nhạc rối nước mang tính hoạt náo của hội hè, có tác dụng mạnh đối với cả người diễn lẫn người xem.

Thông thường, mở đầu cho buổi biểu diễn múa rối nước là sự xuất hiện của chú Tễu với thân hình tròn trĩnh, mặc áo nẹp khuy không cài, vẻ mặt hỏm hỉnh làm nhiệm vụ dẫn dắt, mở đầu câu truyện. Thông qua những tiết mục múa rối, khán giả sẽ được dẫn dắt vào một thế giới tưởng tượng phong phú. Những chú rối rực rỡ sắc màu, nét mặt vui tươi, trình diễn những động tác linh hoạt trên mặt nước, kết hợp với yếu tố âm thanh đặc sắc đã làm nên một nghệ thuật múa rối độc đáo của vùng đồng bằng Bắc Bộ, trở thành một nét sinh hoạt văn hóa không thể thiếu đối với người dân trong các dịp lễ hội từ đời này sang đời khác.

nghệ thuật rối nước, văn hóa truyền thống
Một cảnh khác
Những năm gần đây, múa rối nước không chỉ được biểu diễn khắp cả nước mà loại hình nghệ thuật độc đáo này còn được giới thiệu đến công chúng quốc tế. Năm 1979, tiết mục rối nước “Lân tranh cầu và bắt cầu” lần đầu tiên ra mắt bạn bè quốc tế ở Liên hoan múa rối Vác-xa-va, Ba Lan. Kể từ đó, rối nước Việt Nam có hàng trăm chuyến lưu diễn nước ngoài, tham dự các liên hoan sân khấu quốc tế tại hơn 40 quốc gia trên khắp các châu lục. Hầu hết khán giả nước ngoài từng thưởng thức nghệ thuật múa rối nước cổ truyền Việt Nam đều trầm trồ thán phục bộ môn này. Người Pháp gọi môn nghệ thuật này là “linh hồn của đồng ruộng Việt Nam” và nhận xét rối nước đáng được xếp hạng là “một trong những hình thức quan trọng nhất của sân khấu múa rối”.

Còn ở trong nước hiện nay, gần như trong mọi tour du lịch cho du khách nước ngoài dừng chân tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, đều có chương trình xem biểu diễn múa rối nước. Riêng tại Nhà hát múa rối Thăng Long (Hà Nội), trung bình mỗi ngày đã có 5 khung giờ biểu diễn múa rối để người xem lựa chọn và hầu như lúc nào cũng rất đông người xem. Thông qua các tiết mục múa rối nước, khán giả nước ngoài hiểu hơn về cuộc sống, văn hóa và con người Việt Nam, góp phần nâng cao hiểu biết và uy tín của văn hóa, nghệ thuật Việt Nam, hình ảnh con người Việt Nam trên trường quốc tế.

Có thể nói, múa rối nước là một loại hình nghệ thuật đặc sắc mang đậm bản sắc dân tộc, bao đời qua đã gắn bó chặt chẽ với những tập tục, lễ hội của vùng Bắc bộ. Múa rối nước gần gũi với đời sống thường nhật của người dân, góp phần không nhỏ trong việc truyền bá kiến thức sản xuất, giáo dục tinh thần yêu nước, đạo đức, lẽ sống cho mọi tầng lớp xã hội, xứng đáng là một nghệ thuật độc đáo có một không hai trên thế giới. Hiện nay múa rối nước đang nằm trong danh sách đề cử là di sản văn hoá thế giới.

Tùy bút : Tre Việt Nam của Thép Mới


Thép, mới, tre Việt nam, văn hóa việt, nét đẹp việt nam
Nhà văn Thép mới

Dưới bóng tre xanh của ngàn xưa thấp thoáng những ngôi chùa cổ. Dưới bóng tre xanh, Việt Nam gìn giữ một nền văn hoá lâu đời, tre xanh giúp người dân làm nhà dựng cửa, vỡ ruộng khai hoang, tre ăn ở với người đời đời kiếp kiếp.

Họ nhà tre gồm: nứa, vầu, mai trúc, luồng, giang... đâu đâu cũng có luỹ tre xanh rì rào ẩn hiện. Rặng tre xanh là chiến luỹ bảo vệ làng mạc, xóm thôn, đồng thời ôm vào lòng mình tình thân thương của bà con chòm xóm từ đời này qua đời khác, che mưa che bão cho con người.

Ta có thể thấy, tre gắn bó thân thiết với con người trong mọi lĩnh vực của đời sống, từ những vật dụng trong gia đình, tre đã đi vào thơ ca như một hình tượng bất hủ, tre còn dùng làm thuốc chữa bệnh cho người. Không những thế, tre lại cùng ta đánh giặc gìn giữ độc lập chủ quyền, làm rạng danh cho non sông, đất nước.

Trong lịch sử dân tộc, Thánh Gióng là một hình tượng tiêu biểu, đại diện cho khí phách Việt Nam. Mới 3 tuổi đã biết đánh giặc, khi gậy sắt gẫy, Gióng đã tự lấy tre làm vũ khí để tiêu diệt quân thù. Và không biết tự bao giờ, cây tre và con người Việt Nam đã trở thành đôi bạn chiến đấu thân tín, keo sơn. Tre vốn cùng ta làm ăn lại cùng ta đánh giặc. Buổi đầu không một tấc sắt trong tay, tre là vũ khí, từ chiếc gậy tầm vông cho đến mũi chông nhọn sắc đã làm nên thành đồng tổ quốc và đi vào trong câu hát lời ca:

" Hỡi chị em ơi, thù kia sâu sắc bao nhiêu thì vót cho sắc thật nhiều chông tre. Hố chông đào sẵn bốn bề, tao đố thằng giặc dám về làng tao."

" Này chị em ơi, gió đưa cành trúc la đà, rủ nhau đến gốc tre già vót chông. Trăng lên sáng cả cánh đồng, nửa đêm làng xóm vót chông rửa thù."

Gậy tre, chông tre kiên cường chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng đại bác, tre còn làm hầm ngụy trang và giữ bí mật... Tre bao bọc, che chở cho nguời con Việt trong những đêm dài hành quân ra trận. Rừng là nhà, nhà ngụy trang bằng tre nứa, đất làm giường, nứa tre làm gối, tre đã cùng người lập nên những chiến công vang dội, hiển hách.

Những hiện vật thể hiện mối quan hệ giữa tre và con người Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc còn được lưu giữ rất nhiều trong Bảo tàng Việt Nam. Nào tầm vông, giáo mác, chông tre, những chiếc gùi tre đan xinh xắn, những ống tre tích nước, đựng nước... Tre đã cùng ta vượt bao gian khổ để đạt tới một tương lai sáng lạng với cuộc sống ấm no, giàu mạnh.

Hình ảnh cây đa, bến nước cùng những khóm tre xào xạc là những hình ảnh quá đỗi thân thuộc với người dân ở mọi miền quê Việt Nam. Cây tre không những bảo vệ, bao bọc xóm làng mà còn trở thành nguyên liệu để làm ra những vật dụng thiết yếu cho cuộc sống, gắn bó thân thiết với mỗi con người từ khi sinh ra cho đến lúc qua đời. Ngay từ thủa ấu thơ ta đã được nằm trong chiếc nôi tre êm đềm với tiếng ru à ơi của mẹ. Và nó sẽ mãi là hình ảnh không bao giờ phai mờ. Rồi khi lớn lên, tre lại gắn bó với trẻ trong suốt thời niên thiếu qua những vật dụng hàng ngày hay qua những trò chơi con trẻ. Cũng có lúc tre lại được tô khắc, trang điểm theo những ý tưởng độc đáo của người thợ để tạo ra những sản phẩm mang giá trị thẩm mỹ cao.

Tre gắn bó với con người là như thế. Ngược lên những phiên chợ vùng cao, ta sẽ bắt gặp các mẹ, các chị, những chàng trai, cô gái gùi trên lưng mình những sản phẩm của gia đình. Họ mang đến chợ để trao đổi buôn bán, rồi lại gùi những thứ cần thiết về nhà. ở đây, tre có tác dụng như dụng cụ chuyên chở làm giảm bớt sức lao động cho con người. Tre nứa không chỉ gắn bó với đồng bào qua những sản phẩm như gùi, rổ, rá, thúng mủng... mà tre còn được sử dụng để đan những kỷ vật trong đám cưới hay làm những nhạc cụ góp vui trong ngày lễ hội, cho trai, gái gây dựng một nền tảng mới, đó chính là nền tảng của sự giàu mạnh, hạnh phúc.

Tre gắn bó với con người từ trên cạn cho đến dưới nước. Những chiếc thuyền nan cùng người lái đò cần mẫn trở khách qua sông, người dân vạn chài giăng lưới để cải thiện cuộc sống hàng ngày. Không những thế, tre còn là nguyên liệu để làm nhà, dựng cửa. Xưa kia, tre được sử dụng trong không gian kiến trúc nhà ở có phần đa dạng, phong phú hơn. Nhưng ngày nay, khi về các vùng quê Việt Nam đâu đó ta vẫn gặp những chiếc cổng tre sớm chiều khép mở hay những phên liếp trước cửa nhà để che chắn nắng mưa cho ngôi nhà của người Việt. ở đồng bào các dân tộc ít người, họ nhà tre được sử dụng trong các phần kiến trúc, từ hàng rào phân định ranh giới cho đến mái nhà, cầu thang, bậc cửa, sàn nhà... tất thảy đều có sự hiện diện của tre.

Xưa kia, tuỳ theo từng giai cấp mà tre được sử dụng trong không gian kiến trúc nhà của mỗi gia đình lại có phần khác nhau. Nhưng ngày nay, kiến trúc ngôi nhà phụ thuộc vào chính quan điểm thẩm mỹ của người sử dụng. Sống dưới ngôi nhà tre, họ cảm nhận được sự mát mẻ của thiên nhiên cùng sự bình yên hạnh phúc. Bên cạnh đó, tre còn tham gia vào việc chế tác những nông cụ truyền thống như cày, cuốc, nơm... Tuy cấu tạo của các nông cụ truyền thống rất đơn giản nhưng người nông dân cảm thấy rất thuận tiện và họ đã gửi gắm vào trong mỗi vật dụng của mình ước nguyện về mùa màng bội thu, no đủ.

Nếu như phiên chợ vùng cao giúp ta nhận biết được phần nào sự gắn kết chặt chẽ giữa cây tre với đời sống của đồng bào qua các vật dụng bằng tre nứa thì phiên chợ miền xuôi cũng vậy, rổ, rá, thúng, mủng, sàng... được bày bán khắp nơi và được sử dụng rộng rãi để chứa đựng hàng hóa, vật dụng. Cây tre hữu dụng và thân thiết với con người Việt Nam đến mức từ những vật dụng nhỏ nhất như cái tăm, đôi đũa cũng làm bằng tre. Trong mỗi bữa ăn ấm cúng của gia dình không thể thiếu bóng dáng của tre bởi tre đã trở thành người bạn gần gũi và thân thiết với mỗi người dân Việt Nam.

Trong chiến tranh, tre không chỉ đơn thuần là vũ khí đánh giặc mà tre luôn sát cánh cùng người con Việt Nam, tre cung cấp lương thực trong những ngày đói rét. Cái hương vị đăng đắng, ngọt ngào của những bát măng rừng mãi là âm hưởng không thể nào quên trong trái tim của những người lính đã từng đi qua chiến tranh. Trong thời đại ngày nay, măng cũng luôn xuất hiện trong bữa ăn của các gia đình Việt Nam. Ta có thể gặp măng nấu canh, măng xào, măng luộc, măng nước, đặc biệt hơn cả măng đã được chế biến và xử lý để trở thành món ăn ưa thích của người nước ngoài, là nỗi nhớ, là món quà của người Việt Nam xa quê. Tre gắn bó với con người Việt Nam như thế.

Lá tre, nước tre, tinh tre, mỗi loại đều có tính năng riêng nhưng thông thường, lá tre được sử dụng phổ biến hơn cả. Trong một bài thuốc chữa cảm dân gian, cái hương vị ngọt ngọt, man mát của lá tre là một hương vị không thể thiểu trong các nồi xông. Nó đã góp phần giúp cho người bệnh cảm thấy nhẹ nhàng, sảng khoái hơn. 
ở đâu tre cũng xanh tươi cho dù đất sỏi, đất vôi bạc màu. Tre đã trở thành biểu tượng để nói về con người Việt Nam với khí phách hiên ngang và cho dù ở bất cứ môi trường nào, hoàn cảnh nào cũng đều có thể vượt qua.

Trong những câu ca dao, dân ca, tục ngữ, người dân Việt Nam hay lấy hình tượng tre để nói về sự kế tục giữa các thế hệ: tre già thì măng mọc. Các em như những lớp măng non luôn vươn lên trong sự bao bọc, dẫn dắt của thế hệ đi trước. Rồi đây, các em sẽ lớn lên, vươn cao hơn, sẽ trở thành những người công dân có ích để xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn . 


Tre Việt Nam của nhà văn Thép Mới

Tre xanh, xanh mãi, tre không chỉ xứng đáng là biểu tượng của dân tộc Việt Nam, tre con là linh hồn, là cốt cách, là khí phách của con người Việt Nam!

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

Trống Đồng Đông Sơn - Văn hóa và xã hội Lạc Việt

trống đồng, văn hóa Lạc việt, xã hội Lạc việt
Trống Đồng Đông Sơn

Trống đồng Đông Sơn là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp phát triển. Những chiếc trống này là một hiện vật vô cùng qúy báu, một trong những niềm tự hào sâu sắc của văn minh Việt Nam, nói với chúng ta rất nhiều điều, hoặc sáng tỏ hoặc còn đầy bí ẩn, về cuộc sống và tâm hồn của tổ tiên ta.

Việc phát hiện ra những lưỡi cày đồng và những hình bò được khắc trên thân trống chứng tỏ thời kỳ này đã biết sử dụng sức kéo động vật vào canh tác nông nghiệp. Ngoài ra, các nghề đánh cá, săn bắn, chăn nuôi gia súc và sản xuất thủ công cũng phát triển trong thời kỳ này.

Phần lớn những nơi phát hiện có trống đồng phân bố dọc theo triền những con sông lớn ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Trống có thể đã được phân phối bằng đường thuỷ. Ngoài ra, trong xã hội Lạc Việt còn có tồn tại sự bất bình đẳng về tài sản. Điều này được phản ánh rõ ràng trong sự phân bố những hiện vật tuỳ táng ở các ngôi mộ giàu nghèo thuộc thời đại đồng thau.

  Quan niệm tôn giáo của người Việt cổ: tục sùng bái mặt trời và chim vật tổ

Ngôi sao trên mặt trống đồng là biểu trưng cho mặt trời mà tục thờ mặt trời là một hình thức của đạo sùng bái tự nhiên được phản ảnh rộng rãi trong phong tục tập quán cổ truyền của người Việt. Những hình người hoá trang thành chim trên trống đồng mang ý nghĩa tín ngưỡng vật tổ, mà vật tổ đây là một loài chim. Trong truyền thuyết của người Việt, người Mường có câu chuyện trăm trứng mang ý nghĩa vật tổ.Cuộc hôn nhân Bố Rồng (Lạc Long) - Mẹ Âu (Âu Cơ) phản ánh sự liên kết của hai bộ lạc thờ Rồng và thờ Chim thần. Theo dõi những hình người khắc trên trống đồng, chúng ta thấy những nhân vật chiếm vị trí trung tâm trong các sinh hoạt và nghi lễ thường được hoá trang thành chim, họ tự trang sức mình bằng những chiếc mũ hình chim, hoặc bộ quần áo lông chim, thậm chí những vũ khí, công cụ sản xuất, mũi thuyền, nóc nhà cũng làm theo hình chim, được trang trí hình chim, được trang sức lông chim. Hình ảnh người - chim Việt cổ chẳng những thể hiện một cách có hệ thống trên các trống đồng mà còn thấy trên nhiều thạp đồng, rìu đồng nữa. Chính loài chim bay, có mào, cổ và chân dài, có mặt trên hầu khắp các trống Đông Sơn từ chiếc sớm nhất đến chiếc muộn nhất, giống chim nước gần với loài cò, sếu, vạc ấy là chim vật tổ của người Việt cổ.

Hình ảnh vật tổ Rồng (giao long) giống vật thần thoại kết hợp trong mình nó những nét của cá sấu, rắn nước... thấy khắc trên thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái), trên rìu đồng Đông Sơn, trên mảnh áo giáp đồng tìm thấy ở Hà Nam. Vật tổ hươu (người Mường gọi hươu là mẹ, cá là cha) thấy khắc trên mặt nhiều trống đồng, trên thạp Việt Khê và trên rìu Đông Sơn - Vật tổ cóc (dân gian ta suy tôn cóc là cậu ông trời) cũng thấy trên nhiều trống đồng (Hữu Chung, Đông Hiếu, Đa Bút, Phú Phương, Nông Cống, Thôn Bùi, Chợ Bờ, Đắc Giao, Thôn Mông...) Trong số những con vật thiêng này tách ra một cặp quan trọng đó là cặp Rồng - Chim phản ánh sự kết hợp giữa hai bộ lạc lớn thờ Rồng và thờ Chim, sự hình thành liên minh bộ lạc người Việt cổ lấy tổ hợp bộ lạc Rồng - Chim làm nồng cốt. Cảnh đua thuyền, cảnh hiến tế, cảnh đánh trống, đánh chiêng, giã gạo, múa nhảy thấy trên trống đồng đều là những nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng nông nghiệp, có thể xem đó là cảnh lễ cầu mùa, hội mừng mùa, những ngày hội lễ tiêu biểu của nền văn minh nông nghiệp Việt cổ.

- Trống đồng Đông Sơn còn cho chúng ta những hình ảnh cụ thể về trang phục, về nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc, trang trí, nghệ thuật ca múa nhạc của người Việt cổ.

Trang phục

Quần áo được tả trên trống có các loại như : áo hai vạt ngắn, áo hai vạt dài, váy, khố...Họ đội nhiều loại mũ, tết các kiểu tóc khác nhau.

Nghệ thuật kiến trúc

Dựa theo những hình khắc trên trống đồng thấy có 2 loại hình kiến trúc là nhà sàn mái cong và nhà sàn mái tròn. Nhà có 2 cột chống ở phía đầu nhà, hai đầu và ở giữa có kê thang để lên sàn. Nhà mái tròn thường có một người (hoặc không có người) đứng giữa cửa, hai bên của có chắn phên. Nhà mái tròn có thể liên quan đến tín ngưỡng và tạm gọi là "nhà thờ". Còn những ngôi nhà có mái cong như hình thuyền lại có nhiều người có thể liên hệ rằng đó là "nhà ở". Hai góc mái có những đường hồi hoa văn trang trí. Có thể nói nhà sàn là loại hình kiến trúc chủ yếu của người Lạc Việt.

Tượng trang trí

Có tượng hình chó trên mặt trống nhỏ Đông Sơn, tượng cóc trên mặt các trống nhóm C. Hình tượng còn rất sơ lược nhưng nếu so sánh với thời đại hậu kỳ đồ đá mới có nghệ thuật vẫn chỉ là dạng hoa văn minh họa, thì chúng ta mới thấy bước tiến bộ về mặt nghệ thuật cũng như về kỹ thuật điêu khắc ở thời đại đồ đồng.

  Vũ nghệ

Trên trống đồng, những người múa thường được phục trang bằng những bộ quần áo như : mũ lông chim cao hoặc mặt nạ, tay đôi tkhi cầm vũ khí. Mỗi tốp người múa thường có từ 3,4 hoặc 6 đến 7 người. Trong tốp này có người thổi khèn còn những người còn lại biểu hiện theo một động tác thống nhất, chuyển động từ trái sang phải, người sau nối tiếp người trước một quãng đều đặn, tất cả điều hành vòng quanh ngôi sao (mặt trời).

  Âm nhạc

Theo hình khắc trên trống đồng thì thấy có hai loại nhạc khí được sử dụng bấy giờ là khèn và trống. Có hai cách sử dụng trống :

Trống một người biểu diễn như hình người cầm trống trong nhà hay trên thuyền để giữ nhịp.

Trống diễn tấu trong một dàn trống. Người đánh trống ngồi hoặc đứng trên sàn, cầm gậy dài đánh theo chiều đứng. Trống được đặt trên những chiếc giá sát đất. Kiểu đánh này vẫn được nhìn thấy hiện nay ở những ngày hội của đồng bào Mường ở các tỉnh Hoà Bình.

Nghệ thuật tạo hình

Nghệ thuật trống đồng khá độc đáo, đặc trưng bởi kỹ thuật khắc chạm trên khuôn tạo ra những hình ảnh khắc chìm chủ yếu trên mặt trống, còn trên thân trống thì là hình khắc hơi nổi. Nghệ nhân đã xây dựng hình ảnh trong những bố cục tròn trên mặt trống và ô chữ nhật trên thân trống, bên trong loại bố cục này thì hình ảnh được sắp xếp rất cân đối. Hình ảnh con người luôn được dĩen tả theo tư thế động : múa, giã gạo, đánh trống, bơi chải...Về mặt bố cục, tất cả người, động vật đều diễu hành quanh ngôi sao giữa mặt trống. Đặc biệt, phần tạo hình ở đây hơi giống kiểu tạo hình Ai Cập. Ví dụ : tốp người múa trên mặt trống có ngực hướng thẳng về phía khán giả, chân và đầu theo lối nhìn nghiêng. Còn trong hình chim bay thì thân cánh và đuôi được tả theo hình nhìn từ trên xuống, còn đầu thì theo lối nhìn nghiêng.

Những kiến thức khoa học

Kỹ thuật đúc: Trống đồng là một hiện vật khá lớn. Chiếc trống cỡ lớn có đường kính mặt trống xấp xỉ 90 cm, chiều cao trên dưới 60 cm, nặng gần 100 kg, hình thể phức tạp : tang trống phần trên phình ra hình nón cụt, giữa thắt lại hình trụ tròn, phần chân loe ra hình phễu. Để đúc một vật như vậy không hề đơn giản. Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng trống được đúc bằng khuôn hai mảnh, rìa mặt trống còn để lại những dấu vết cách đều, đó là dấu vết con kê để căn đều chiều dày thành trống trên khuôn đúc. Để đúc thành công như vậy thì người nghệ nhân phải đạt được hàng loạt các yêu cầu về kỹ thuật như phải có một nhiệt độ cao để nung chảy hợp kim đồng, phải tìm được vật liệu chịu lửa để làm khuôn đúc, phải nắm vững được tính năng hóa lý của mỗi kim loại trong hợp kim đồng, đặc biệt là phải có kỹ thuật đúc với tay nghề thành thạo. Quan sát hệ thống hoa văn dày đặc và tinh xảo trên trống Ngọc Lũ 1 và trống Hoàng Hạ có thể kết luận được xã hội Lạc Việt có những người thợ đúc lành nghề.

Số lượng những cánh sao, động vật, những hình thuyền trong vành hầu hết đều là số chẵn. Điều này chứng tỏ người Lạc Việt đã rất chú ý đến việc tính đếm. Trong số những số lượng cánh sao nổi bật lên là con số 12 (chiếm 46,1% tổng số). Số này liên quan đến số lượng tháng trong một năm.

Các nhóm thuyền khắc trên trống thể hiện sự phát triển về kỹ thuật quân sự của thời này. Trong số 436 người được khắc trên các trống có 175 người cầm vũ khí (40,1%). Các loại vũ khí gồm : giáo, rìu, cung, dao găm và mộc.

Bài viết tham khảo khác:

Trống Đồng Đông Sơn - Dấu ấn của các Vua Hùng

Vua Hùng, Hùng Vương, trống đồng Đông sơn
Vua Hùng

Trống đồng Đông Sơn làm chúng ta liên tưởng đến truyền thuyết người Việt và người Mường. Truyền thuyết "trăm trứng" của người Việt kể rằng Bố Rồng và Mẹ Âu chia làm đôi số 100 người con của mình: 50 con theo cha về biển, 50 con theo mẹ lên núi (tức là địa bàn Phong Châu), cử người con trưởng làm vua lấy hiệu là Hùng, đặt tên nước làVăn Lang, truyền được 18 đời đều gọi là vua Hùng. Truyền thuyết "Trăm Trứng" của người Mường (kể lại trong sử thi "Đẻ Đất Đẻ Nước" ) nói: 50 người con về miền đồng bằng trở thành tổ tiên người Việt; 47 người đi lên miền núi, họ là tổ tiên của các dân tộc miền núi, còn lại 3 người sinh ra từ những trứng đầu tiên: Tá Cài, Tá Cần, và Dạ Kịt. Sau khi anh cả là Tá Cài bị rắn cắn chết, các mường mời Tá Cần lên ngôi vua. Tá Cần lấy bà Chu Bà Chương sinh được 18 con: 9 con trai và 9 con gái. Họ trở thành lang (thủ lĩnh) và chia nhau đi coi giữ các bản Mường.

Qua hai truyền thuyết trên, chúng ta lưu ý đến con số 18. Các sách sử cổ của ta như Việt Nam thế chí, Đại Việt Sử lược, Đại Việt Sử ký Toàn thư...và ngọc phả Hùng Vương hiện lưu trử tại đền Hùng đều nói đến con số 18 đời vua Hùng. Truyền thuyết và phong tục cổ truyền của dân gian ta nhiều lần nhắc tới con số 18: Truyện Bánh chưng bánh giầy kể rằng vào cuối đời vua Hùng thứ 6, vua đã truyền ngôi, khônng phải cho con cả mà là cho con trai thứ 18, tên là Lang Chiêu, người đã làm được và đem dâng vua hai thứ bánh ngon lành và ngụ nhiều ý nghĩa.

Truyện Ông Dóng ghi lại chi tiết: người anh hùng làng Dóng bảo sứ giả của vua Hùng đúc cho ngựa sắt cao 18 thước, với ngựa này Dóng sẽ đi dẹp giặc.

Truyền thuyết về vua Thục An Dương và thành Cổ Loa cho biết vòng trong cùng của thành có 18 u hoả hồi.

Trong tục rước nõn nường phổ biến ở khá nhiều địa phương vùng trung du và miền đồng bằng Bắc Bộ, dân gian xưa mang đi trong đám rước 18 cái nõn và 18 nường (là những vật tượng trưng có ý nghĩa phồn thực).

Con số 18 được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong nhiều trường hợp khác nhau chắc có một vị trí quan trọng trong thế giới quan của người Việt cổ.

Tìm hiểu các trống đồng Đông Sơn, lại thấy thêm một điểm đặc sắc. Đếm kỹ số lượng chim trong các vành chim bay - loại chim được nhiều nhà nghiên cứu xem là vật tổ của người Việt cổ - thì mỗi vành có đúng 18 chim! Một điều rất lý thú nữa là: ở vành chim trên mặt trống sông Đà tìm được trong một bản Mường thuộc tỉnh Hoà Bình, lúc đầu nghệ nhân sơ ý nên chỉ chia vành ra 17 cung bằng nhau, khi khắc trên khuôn đúc đến hình chim thứ 16 thì chỉ còn lại có một đoạn, vì vậy bắt buộc nghệ nhân phải khắc hai hình chim vào đoạn cuối cùng này cho đủ số 18 chim (nếu không làm như vậy thì vành chỉ đủ chỗ cho 17 chim thôi).

Điều này một lần nữa cho thấy ý nghĩa rất quan trọng, rất cơ bản của con số 18 trong đời sống tinh thần người Việt cổ. Phải chăng con số 18 đời các vua Hùng là 18 dòng họ đầu tiên kết hợp với nhau trong liên minh bộ lạc Văn Lang, lấy tổ hợp bộ lạc chim - Rồng làm nồng cốt? Bản thân con số 18 có mặt trên trống đồng, sự hiện diện của 18 chim vật tổ trên các trống đồng cổ nhất, to nhất, đẹp nhất của trống Ngọc Lũ, trống Sông Đà, trống Khai Hoá... phải chăng đó là dấu ấn cụ thể của triều đại 18 vua Hùng, là căn cứ vật chất xác nhận sự tồn tại của thời đại Hùng Vương dựng nước.

Bài viết tham khảo khác:
Trống đồng Đông Sơn - Nét văn hóa của người Việt Cổ