Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

Núi Vọng Phu (Thanh Hóa): Biểu tượng chung thủy của người phụ nữ

Đến Thanh Hóa, bạn sẽ thấy trên đỉnh núi Nhồi một cột đá đứng sững cao khoảng 20m giống hình người phụ nữ ôm con, dân địa phương gọi là hòn Vọng Phu. Thuộc xã Đông Hưng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa 3km về phía Tây Nam, nay là phường An Hoạch, Thành phố Thanh Hóa, hình tượng này gắn với truyền thuyết người đàn bà chung thủy chờ chồng đến hóa đá.

nét đẹp Thanh Hóa, vẻ đẹp Việt Nam


Núi Vọng Phu là một ngọn núi đá vôi được thiên nhiên tạo nên hình một người phụ nữa đang quay mặt về phía biển Đông. Hình tượng này gắn với truyền thuyết người đàn bà chung thuỷ chờ chồng đến hoá đá. Chóp núi Vọng Phu là một khối đá hoa cương khổng lồ, đứng thẳng lên trời, bên cạnh lại có một khối đá khác nhỏ hơn. Hai khối đá này tương tự hình người, từ xa khoảng 50km vẫn còn trông rõ hình tượng người mẹ hóa đá đang bồng đứa con, phóng tầm mắt ra biển khơi mong chờ người chồng trong vô vọng.

Tương truyền có 2 vợ chồng trẻ sanh được 1 đứa con gái 4 tuổi, một hôm người chồng bàn với vợ rằng ở trên núi cao có cây dó là đất đai của Bà Thiên Y A Na (Bà Chúa Ngọc) rất linh thiêng, chàng muốn lên đó để tìm của kỳ nam mang về bán làm chút vốn làm ăn hầu thay đổi cuộc sống lam lũ hiện tại. Ðược vợ đồng ý chàng sửa soạn hành lý, trên lưng địu một gùi lương khô, tay cầm rìu, rựa, miệng ngậm ngãi từ biệt vợ con ra đi. Nhưng ngày qua tháng lại... chẳng thấy chàng trở về, hai mẹ con chiều chiều dắt nhau lên đầu núi ngóng trông rồi hóa đá thành núi Mẫu Tử.

Một tương truyền khác nói rằng ngày xưa có 2 vợ chồng tiều phu hiếm muộn đã đi cầu tự khắp các đền chùa, cuối cùng sinh được 1 cô gái dễ thương và qua năm sau sinh tiếp 1 cậu trai kháu khỉnh. Một ngày nọ 2 chị em róc mía ăn và tranh giành với nhau. Sao đó, đứa em lỡ tay làm trúng 1 dao lên đầu chị máu ra lai láng... vì sợ quá nên bỏ nhà trốn biệt. Cha mẹ tìm mãi vẫn không thấy con đâu, buồn khổ rồi qua đời, bỏ lại cô con gái chỉ có 1 mình bơ vơ nên cũng bỏ xứ ra đi. Ðứa em trai từ lúc bỏ chạy tới mé biển gặp một chiếc thuyền buôn, xin theo và sống rày đây mai đó... về sau trở thành một thương nhân khá giả. Một hôm chạnh lòng nhớ cố hương mới tìm đường trở về quê cũ, nhưng chẳng còn ai nên cũng bỏ ra đi. Ði đến một thung lũng chàng gặp một cô gái, 2 người thương nhau rồi kết thành vợ chồng sanh được 1 bé gái xinh đẹp gia đình sống rất đầm ấm hạnh phúc. Một hôm người vợ ngồi gội đầu... người chồng nhìn thấy 1 vết sẹo trên đầu vợ mới hỏi nguyên do, nàng thành thật kể lại đầu đuôi câu chuyện... Chàng chết điếng khi biết người đầu ấp tay gối bấy lâu nay chính là chị ruột của mình nên đau khổ bỏ đi. Nàng chẳng hiểu vì sao... mới nhờ người tìm kiếm khắp nơi nhưng chẳng thấy tăm hơi, cuối cùng bồng con lên núi ngóng trông rồi hóa thạch thành núi Mẹ Bồng Con.

Một huyền thoại khác kể rằng ngày xưa có một "chàng tuồi trẻ vốn dòng hào kiệt " yêu một cô gái nết na, xinh đẹp nhất vùng. Họ kết duyên với nhau và sống quấn quít bên nhau rất hạnh phúc, nàng dệt cửi quay tơ, chàng dùi mài kinh sử chờ ngày ra Kinh Ðô ứng thí. Khi nàng sanh được 1 đứa con gái xinh xắn thì quân giặc tràn đến xâm lấn cõi bờ. Chàng trai đành xếp bút nghiên, từ tạ người vợ trẻ lên đường ra biên ải rồi hy sinh ngoài chiến địa. Ở quê nhà nàng chinh phụ ôm con đợi chờ rồi hóa đá thành núi Vọng Phu, những giọt lệ của nàng rơi xuống hóa thành sông, có tên là sông Cái chảy vào sông Dinh để ra biển.

nét đẹp Thanh Hóa, văn hóa Việt Nam

Hình ảnh núi Vọng Phu cũng vì thế mà trở thành biểu tượng đẹp, thành đề tài trong các câu hát dân gian xưa cũng như trong những sáng tác văn chương nhạc hoạ của các nghệ sĩ sau này.

Bao năm đâu quản gió mưa,
Bồng con đứng đợi vẫn chưa thấy về,
Thời gian phai xóa lời thề,
Mẹ con hóa đá bên lề tháng năm.

(Bình Nguyên Lộc)

Hay :

Bồng con ngồi dựa trên non
Trăng thu vằng vặc dạ còn nhớ trông

Riêng những người đi biển thì lại có cách nhì khác, họ đã thánh hóa nàng Vọng Phu thành một Nữ Thần luôn giúp đỡ họ trong cuộc hành trình:

Lạy Bà, Bà cả gió đông
Cho thuyền tôi chạy cho chồng Bà lên
Lạy Bà, Bà nổi gió nồm
Chồng Bà ở Quảng giong buồm theo vô

Bonus: Người đàn bà hóa đá (Bức Tường)

Nguồn: Tổng hợp

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

Bài học từ Cây Tre trăm đốt

Cây tre trăm đốt, tre xanh việt nam
Cây tre trăm đốt
Việt Nam có một kho tàng truyện cổ dân gian khá phong phú. Các đề tài thường được khai thác trực tiếp từ những sinh hoạt thường nhật của người Việt xưa. Mỗi câu chuyện thường chứa đựng trong nó một hoặc nhiều thông điệp tâm linh sâu sắc. Trong đó những giá trị nhân văn căn bản như đề cao sự chân thật, hướng đến điều thiện, bài trừ sự gian trá ,xảo quyệt, tiêu diệt cái ác...thường được lấy làm trọng tâm.

Một câu chuyện được nhiều người Việt biết đến đã thể hiện được cách nhìn nhận của người Việt xưa về “thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo” (*). Câu chuyện với tên gọi truyện “Cây tre trăm đốt” kể về một chàng nông dân nghèo tên Khoai. Ngay từ khi còn nhỏ, do nhà nghèo Khoai đã phải chịu làm thuê cho một địa chủ giàu có trong vùng. Tính Khoai ngay thẳng, thật thà lại làm việc chăm chỉ, siêng năng, không ngại khó ngại khổ nên anh được nhiều người quý mến. Tay địa chủ thuê anh vốn là một kẻ nham hiểm, xảo quyệt. Biết anh Khoai được nhiều người để ý, có thể bị một địa chủ khác mời chào nên hắn nghĩ ra một kế để giữ chân anh Khoai ở lại lâu dài với hắn. Hắn nói với anh Khoai rằng hắn hứa sẽ gả cô con gái út của hắn cho anh khi cô con gái đến tuổi lấy chồng nếu như anh đồng ý làm việc chăm chỉ cho hắn trong mấy  năm tới. Anh Khoai thật thà tin tưởng lời hứa đó và mỗi ngày đều cố gắng làm hết mọi việc thật tốt cho tên địa chủ.

Nhiều năm qua đi, đến khi con gái út của địa chủ đến tuổi lấy chồng , tên địa chủ đã tráo trở hứa hôn con gái lão với một tên công tử giàu có khác ở làng bên. Khi Khoai tìm đến hỏi lão về lời hứa năm xưa, bụng dạ thâm độc của tên địa chủ lại nghĩ ra một mưu kế khác để lừa anh Khoai. Hắn vờ vỗ về Khoai và đặt ra một điều kiện thử thách, yêu cầu anh Khoai vào rừng chặt về cho hắn một cây tre có một trăm đốt tre để làm lễ cưới. Chàng Khoai ngây thơ và cả tin lại một lần nữa xách dao vào rừng tìm đốn cây tre trăm đốt.

Nhiều ngày trôi qua lùng sục khắp núi rừng ,Khoai vẫn chưa tìm được cây tre nào có đủ trăm đốt để chặt về cho tên địa chủ. Đến lúc này Khoai mới sực tỉnh ngộ và nhận ra rằng mình đã bị tay địa chủ lừa vào rừng đốn cây tre mà tên địa chủ vốn đã biết trước là không thể nào có. Cay đắng và buồn tủi sau nhiều năm chịu khổ nhục mà chẳng được gì, Khoai chỉ còn biết ôm mặt mà ngồi khóc.

Ngay khi đó, một ông lão dáng người phúc hậu đi đến và hỏi thăm anh Khoai vì sao anh lại khóc. Khoai thành thật kể rõ sự tình. Ông lão nghe xong khẽ mỉm cười và bảo anh Khoai “Con hãy chặt về đây cho ta một trăm đốt tre rồi ta sẽ giúp con”. Nhanh nhẹn và tháo vát, Khoai chặt một loáng về đủ một trăm đốt tre cho ông lão. Lúc này ông lão khẽ đọc “khắc nhập, khắc nhập” (**) thì kì diệu thay một trăm đốt tre rời gắn liền lại với nhau thành một cây tre có đủ một trăm đốt. Ông lão đọc tiếp “khắc xuất, khắc xuất” (***) thì ngay lập tức một trăm đốt của cây tre tự tách rời nhau ra. “Con là một người lương thiện, ta tặng con hai câu thần chú này”, ông lão nói với Khoai. Anh Khoai khi đó mới nhận ra ông lão kia là một bậc thần tiên hiện ra giúp đỡ, anh chân thành dập đầu tạ ơn ,sau đó bó một trăm đốt tre mang về.

Anh Khoai về đến sân nhà tên địa chủ thì đúng ngay lúc tên địa chủ đang cho hai họ tổ chức lễ ăn hỏi giữa con gái út của lão và công tử giàu có làng bên. Khoai đi thẳng đến trước mặt tên địa chủ và nói anh đã tìm được cây tre trăm đốt, đang để ngoài sân, anh muốn tên địa chủ thực hiện lời hứa. Tên địa chủ xảo quyệt cười khinh khỉnh không tin và sau khi ra sân nhìn thấy bó tre hắn càng khoái trá cười lăn lộn. “Tao bảo mày tìm cây tre trăm đốt chứ có bảo mày chặt một trăm đốt tre đâu”, hắn cười nhạo báng Khoai. Nhiều người họ hàng tham dự, cùng bọn nhà giàu làng bên trước tình cảnh đó cũng hùa theo tên địa chủ mà thay nhau nhục mạ Khoai. Thay vì phải tỏ ra bất bình trước sự trí trá lật lọng của tên địa chủ, một số còn ủng hộ và lấy Khoai ra để làm một tên hề mà nhạo báng.

Khoai khi đó mới khẽ đọc “khắc nhập, khắc nhập” và liền tức thì một trăm đốt tre gắn liền lại với nhau thành một cây tre dài trăm đốt. Điều kì lạ hơn là cả tên địa chủ và rất nhiều người lúc nãy vây quanh bó tre mà thay nhau cười nhạo anh Khoai cũng đều bị dính liền chung với một trăm đốt tre kia. Cả một đám người bấy giờ chuyển sang kêu la, than khóc van xin anh Khoai thả xuống khi mà cây tre dựng đứng lên cao vót. Vẻ mặt tên địa chủ cùng đám người hùa theo tái mét kinh hãi. Cả đám bị treo lủng lẳng trên thân tre một lúc lâu. Khoai khi đó hỏi lại tên địa chủ về lời hứa gả con gái cho Khoai. Tên địa chủ sợ hãi xin tha và nói sẽ lập tức thực thi lời hứa. Anh Khoai khẽ đọc tiếp “khắc xuất, khắc xuất”, cây tre tách rời ra một trăm đốt và đám người kia được thả lại xuống đất. Khoai cuối cùng cũng đã cưới được cô gái út đúng như những gì anh xứng đáng được hưởng.

Câu truyện trên đã có một kết thúc tốt đẹp. Người lương thiện sẽ nhận lại được sự hạnh phúc sau khi trải qua nhiều khổ nạn. Kẻ ác tâm cuối cùng cũng sẽ phải nhận lãnh sự trừng phạt. Tên địa chủ tượng trưng cho điều bất hảo. Chúng ta ,ngay trong chính xã hội hiện đại văn minh này, thường xuyên cũng bắt gặp khá nhiều kẻ giống như tên địa chủ trong truyện, và cũng không lạ khi chúng ta cũng bắt gặp rất nhiều người dù biết là điều xấu ác nhưng vẫn hùa theo ủng hộ mà hắt hủi lại những con người lương thiện. Tuy nhiên mọi việc chúng ta chọn lực và thực hiện hôm nay đều sẽ phải nhận lại báo ứng trong ngày mai. Chúng ta đứng về lẽ phải, về điều thiện, về sự nhẫn nại vươn lên thì chúng ta sẽ có được tương lai hạnh phúc. Chúng ta chọn cái xấu ác hay đứng sang ủng hộ cho cái xấu ác mà làm hại người lương thiện thì chúng ta sẽ nhận lại điều bất hạnh cho chính mình trong tương lai.

Tuy vậy, như trong đoạn kết câu chuyện, anh Khoai vẫn đọc câu thần chú “khắc xuất, khắc xuất” để giải phóng những kẻ xấu bị treo trên cây tre trăm đốt sau khi họ đã tỏ ra hối cải. Lúc nào cũng vậy, luôn vẫn còn có một lựa chọn mang tính thiện giải cho mọi sự. Nhưng điều này cũng chỉ có thể xảy đến cho những ai biết ăn năn hối cải kịp lúc trước khi quá muộn.


(*) thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo : người làm điều thiện sẽ nhận lại được điều thiện, người làm điều ác sẽ nhận lại được cái ác.
(**) khắc nhập, khắc nhập : nhập lại ngay tức khắc, nhập lại ngay tức khắc
(***) khắc xuất, khắc xuất : xuất ra ngay tức khắc, xuất ra ngay tức khắc

Bóng tre trùm mát rượi

tre việt nam. vẻ đẹp việt nam
Lũy tre

Mỗi khi nghĩ tới quê hương trong tâm trí mỗi người Việt Nam ta lại hiện lên thấp thoáng những cánh đồng với cánh cò bay lả bay la, với những lũy tre làng tỏa bóng râm mát, với cánh võng trưa hè kẽo kẹt gió đưa, với hàng cau bên hiên nhà thoảng đưa hương dìu dịu…

 Từ xa xưa, cây tre đã gắn bó với cảnh vật, với nếp sống, nếp nghĩ và cả nếp văn hóa Việt Nam bình dị mà đầy sức sống, dẻo dai mà cứng cỏi trước gió bão thiên tai, trước trộm đạo, giặc cướp, giặc ngoại xâm- nhân tai. Làng quê Việt Nam với những rặng tre rợp bóng quanh làng,nghiêng xuống nơi bờ ao tạo nên nép đẹp bình yên. Không thể kể hết sự gần gụi và tính đắc dụng của tre đối với người nông dân Việt Nam. Tre làm nhà cửa- vì kèo, phiên liếp, vách tường… Tre làm vô số vật dụng cho nhà nông – cán cuốc, cán dao, cái bừa, cái cào, cái ách quàng lên cổ con trâu, cái cần câu, cái vó cất tôm cất tép, cái đơm cái đó, cái bè cái mảng, cái đòn gánh cong cong, đôi quang gánh đung đưa cho bà cho cô đi chợ, cho nặng trĩu bó mạ, gánh phân ra đồng, cho lúa chín mẩy mình chắc hạt từ đồng về nhà. “ Cối xay tre ngàn đời quay xay nắm thóc” Cầu ao tre cho người giặt giũ, cho trẻ nô đùa tắm mát. Cầu tre bắc qua con mương, con kênh. Mấy nhịp cầu tre để đôi lứa yêu nhau, cởi áo cho nhau về nhà mẹ hỏi – qua cầu gió bay. Khung cửi tre, cái xa quay sợi để “ bên anh đọc sách bên nàng quay tơ”. Tình yêu, hạnh phúc lứa đôi của người lao động thật giản dị, đơn sơ mà tha thiết, thủy chung làm sao. Tre từng được dùng để làm ra các đồ gia dụng trong nhà. Nhỏ bé như cái tăm tre, mỏng mảnh như cái lạt mềm buộc chặt. Rồi rổ, rá, giần, sàng, cái rế đựng nồi, cái gáo múc nước. Thoáng đãng mà chắc chắn là cái chạn tre. Thoáng đãng mà mát mẻ là cái chõng tre, cái quạt nan tre, để rồi vợ chồng như đũa có đôi…Những triền đê được giữ vững trước nước lụt, bão tố, ngoài phần công sức của con người đóng cọc tre, gánh đất đá đắp bồi nên những con đê, còn có công sức của bụi tre giữ đất, chống xói mòn. Khi đất nước có giặc ngoại xâm những bụi tre đằng ngà, những cung, nỏ, bàn chông, gậy tầm vông vạt nhọn đã là chứng tích đi vào lịch sử. Những chiều quê êm ả, cánh diều trẻ thơ, tiếng sáo chăn trâu gọi ta về với quê cha đất tổ. Ấm áp thay là quê hương. Sâu nặng thay là quê hương. Ngay Tết giá như ta còn ông bà để trở về quê. Tết quê xưa, ngày cuối năm hay còn gọi là bữa trừ tịch trước cửa nhà dựng một cây tre, trên buộc giỏ bằng tre, trong giỏ bỏ trầu cau vôi, bên giỏ có giấy vàng giấy bạc. Người xưa treo lên cây nêu nào là khánh là chuông nhà Phật, để cho biết ở đây có Phật độ trì ma tà quỷ dữ tránh xa, bình an đến với mọi nhà. Ngay 7 tháng Giêng hạ cây nêu, gọi là triệt hạ. Bao nợ nần, bao tranh dành trong khoảng thời gian này tạm gác, đợi qua ngày hạ nêu. Giữa bao thiết bị, vật dụng hiện đại hôm nay, ta vẫn gặp đâu đó, không nhiều, những đồ dùng bằng tre. Nhưng cây nêu ngày tết không còn nữa. Một mỹ tục đậm bản sắc dân tộc, một hành vi mang nhiều ý nghĩ tốt đẹp, hướng con người đến với cái thiện như thế đã vắng bóng.

Cây tre cứng mà mềm mại, uốn cong mà vẫn thẳng thắn, đổ mà không gãy, lá nhỏ mà bóng rợp, luôn vươn lên xanh tươi dù ở nơi đất cằn sỏi đá. Tre không sống lẻ loi mà cả bụi tre, rặng tre, có măng tre, búp tre tay tre, cây tre già, cây tre đực. Gốc liền gốc, rễ đan vào rễ. Trước cuồng phong, thân tre uốn lượn, quăng lên quật xuống theo chiều gió. Tre chịu trốc cả gốc rễ, ngã xuống cả thân cây, bụi cây.Tre, trúc tượng trưng cho mẫu người quân tử theo quan niệm của các nhà nho phương Đông. Cây tre là một biểu tượng điển hình của nguyên lý cương nhu phối triển, của một nhân cách, một lối sống cao thượng, nhân hòa. Lòng tre rỗng không được ngăn cách với bên ngoài bằng từng đốt tre bịt kín. Tâm của người quân tử trong sáng, không chứa đựng một vọng niệm ác ý nào như tâm của cây tre vậy.                               

Có mặt ở nhiều nước châu Á từ xa xưa,cây tre cũng gắn bó thân thiết với người dân Việt từ ngàn năm rồi. Cây tre là biểu trưng cho tính chất bản sắc riêng của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Cuộc sống sẽ ra sao nếu thiếu vắng cây tre? Cuộc sống đã hiện đại mà sẽ ngày một hiện đại. Thành phố đang trải dài, mở rộng. Các khu đô thị, khu công nghiệp đang mọc lên trên những cánh đồng. Những nhà ngói, nhà tầng đang thay dần ở nông thôn. Xi măng, sắt thép, gạch đá là nguyên vật liệu xây dựng nhà cửa. Đồ gỗ, đồ dùng nhôm nhựa đa dạng, tiện lợi trong sinh hoạt hàng ngày. Phạm vi sử dụng của tre thu nhỏ lại. Những con đường liên thôn, liên xã, nối liền các huyện đã và đang được bê tông hóa hình như không phù hợp với nhứng rặng tre làng. Bóng tre nhỏ đi. Cây tre gần gũi thân thiết bao đời nay người quên kẻ nhớ. Chen giữa những ồn ã phố phường, giữa bao bụi bặm công nghiệp, cây tre – những sản phẩm từ tre vẫn một vóc dáng riêng. Nhiều nước châu Á vẫn phát triển trồng tre và chế biến tre. Tre bảo vệ môi trường, chống xói mòn đất, chống xói lở bờ sông. Tre mọc ken dày có thể giảm cường độ của gió, giảm sự tàn phá của những cơn bão và gió lốc. Nước ta cũng như nhiều nước quanh vùng đang sử dụng các cây thuộc họ tre làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy. Tre đã được sử dụng làm những căn nhà cao tầng cùng với các loại vật liệu khác.Nhà kính khung tre, bàn máy tính bằng tre, ván trượt lướt sóng bằng tre và quen thuộc hơn cả vẫn là đồ dùng nội thất bằng mây tre. Bàn ghế, giừơng tủ tre nhiều kiểu dáng sinh động, trông thanh mảnh mà cứng cáp vẫn được dùng trong gia đình và xuất khẩu. Người dùng đồ đạc bằng tre mang nhiều chất nghệ sĩ trong cách sống của mình. Một căn phòng với bàn ghế tre,  chụp đèn đan bằng tre, trải chiếu cói, cắm hoa sen trong lọ sành…một phong cách riêng ấn tượng. Một quán ăn buông mành tre, ốp tường tre, chõng tre, chiếu cói, cả đến khung ảnh trên tường, đèn lồng…tất cả đều sử dụng vật liệu dân gian tạo một cảm giác ấm áp khó quên. Nhu cầu về tre hạn hẹp lại nhưng tinh xảo hơn. Hình tượng cây tre là nguồn cảm hứng bất tận để người nghệ sĩ gửi gắm tâm hồn và tư duy sáng tạo nghệ thuật. và tranh tre là một loại hình như vậy. Các tranh dân gian như Đánh ghen, Đám cưới chuột, Hứng dừa, đấu vật, tranh tứ quý, phang cảnh, tĩnh vật... được cắt hình tạo mẫu bằng tre. Phong cảnh đồng quê, các cảnh sinh hoạt nông thôn cũng được các nghệ nhân đưa vào tranh tre tạo nên những nét đẹp mới. Tranh tre đem đến cảm xúc thân thuộc, bình dị, đem lại sự tĩnh lặng, thư thái hồn người. Một số loại tre trúc được trồng làm cây cảnh thu nhỏ trong chậu, thu nhỏ nơi góc hòn non bộ. Cái tăm tre nhỏ xíu vẫn được ưa chuộng nhiều nhất dẫu bây giờ đã có tăm gỗ, tăm nhựa. Dóc tăm ra xỉa kẽ răng, cọ chân răng thường xuyên như các cụ ta xưa thì răng vẫn trắng đẹp. Rồi còn nữa lạt tre gói bánh chưng xanh quanh năm và ba ngày tết, cái giần,cái sàng cho hạt gạo nhà nông, chiếc đòn gánh cho người lao động. Cái đòn gánh của “ cái cò lặn lội bờ sông / gánh gaol đưa chồng tiếng khóc nỉ non” trong ca dao xưa vẫn tảo tần trên đôi vai người phụ nữ. Cải mảnh đòn tre dẻo bền, êm ái không gì thay thế được. Cái gánh khó gánh nghèo theo mẹ theo chị trên đồng, trên chợ, ra ngoài thành phố nhẫn nhịn nuôi cái cùng con. Xin hãy nhẹ tay khi giằng đi, quằng đi cây đòn gánh buốt đôi vai, bóng mồ hôi của mẹ kiếm tiền nuôi cái chữ cho con nên người. Xin hãy đừng quên ta vốn gốc người nhà quê kẻ chợ, bờ ruộng, nếp nhà, bóng mát bụi tre. 

Việt Nam, đất nước bốn mùa xanh tươi cây cối. Ngàn con mắt lá, ngàn tiếng rì rào. Cây nói lời của mình với mỗi chúng ta. Cây tre Việt nam, tiếng nói Việt Nam đưa ta về với cội nguồn, với giản dị, yêu thương.

Theo: Bùi Kim Anh

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013

Tre và Người quân tử

Tre xanh, người quân tử, con người việt
Tre và người quân tử

Trong văn chương bình dân, cây tre là hình ảnh thân thương bất khả phân ly, gợi lên bổn phận và trách nhiệm gánh vác gia đình, non nước của người làm trai.

Theo quan niệm của người phương Đông, tre, trúc tượng trưng cho mẫu người quân tử. Cứng mà mềm mại, đổ mà không gãy, lòng rỗng không, biểu trưng cho tinh thần và khí độ an nhiên tự tại, không mê đắm quyền lợi, vật chất. Tre, trúc biểu lộ tính cách của dân tộc Việt, một dân tộc có tiết tháo, phẩm hạnh và kiêu hùng, ngoan cường nhưng hiếu hòa, độ lượng.
Ngay từ thời dựng nước, cây tre đầu làng vốn gần gũi, thân quen, thoáng chốc trở thành vũ khí lợi hại có đủ tính cương nhu, giúp cậu bé làng Gióng đánh tan giặc Ân, sau khi chém gãy cả thanh gươm sắt.
Dân tộc ta đã biết sử dụng tre làm công cụ giữ nước, với các vũ khí lợi hại như cung, nỏ, bàn chông, tầm vông vạt nhọn… Và những tiếng nổ kinh hồn của hàng loạt pháo tre đã làm quân thù bạt vía trên chiến trường, hay góp vui trong ngày hội liên hoan thắng trận.
Không như hầu hết các loại cây chỉ đứng riêng lẻ một mình, tre luôn mọc thành bụi, có gốc liền gốc, rễ đan rễ, thể hiện tính quần tụ, kết đoàn, tạo thành sức mạnh khó lay chuyển. Câu chuyện một người bẻ dễ dàng từng chiếc đũa tre, song không thể bẻ gãy cả bó được minh chứng.
Thân tre thẳng và cao mà không bị đổ là do thớ tre dẻo và thân tre mềm dễ lượn theo chiều gió. Với đặc tính phối hợp cương nhu để đón gió, thuận theo gió vừa đủ rồi ngạo nghễ vươn lên trở lại hình dáng cũ – một đặc tính độc đáo chỉ có ở cây tre. Dưới những trận cuồng phong, tre chỉ chịu tróc gốc cả bụi chứ không bao giờ chịu gãy ngang thân…
Tính chất nổi bật nhất trong cây tre tương ứng với kỹ thuật võ học là càng bị uốn cong và kéo sát bao nhiêu thì sức bật lại càng mãnh liệt, dữ dội bấy nhiêu. Điều này càng thể hiện rõ tinh thần cương nhu phối triển trong nghệ thuật giữ nước của dân tộc Việt. Gặp đối thủ cường bạo, hung hiểm, tạm thời ông cha ta thường lánh đi (nhu) để tránh nhuệ khí ban đầu. Sau đó chờ cho địch lơi lỏng, chểnh mảng việc quân cơ, ta mới tập trung đánh những trận quyết định (cương) hầu giành thắng lợi sau cùng.
Trước những trận đánh quyết định để đảm bảo thắng lợi, chúng ta cần lùi lại để tạo đà thật vững chắc. Lịch sử giữ nước của bao nhiêu triều đại Việt Nam đã chứng minh cụ thể điều đó. Với biểu tượng cây tre, dân tộc ta đã nâng việc giữ gìn và bảo vệ đất nước lên hàng nghệ thuật với biết bao kinh nghiệm vô cùng sống động và phong phú.
Tóm lại, cây tre biểu tượng cho một nhân cách, một hoài bão cao thượng. Quần thể tre cho thấy một xã hội thuận hòa kỷ cương “tre già măng mọc”, chứ không phải tranh sống theo kiểu “cây lớn đè cây nhỏ” giành lấy ánh sáng mặt trời.
Bắt nguồn từ các quan điểm trên, các bậc thầy Vovinam - Việt Võ Đạo quan sát cây tre ở nhiều góc độ, tư duy về lẽ sinh tồn, thành bại để đúc kết xây dựng một lý luận về vận động võ học, một quan niệm nhân sinh. Từ đó xây dựng một con người võ đạo biết sống yêu thương gần gũi, hòa nhập với cộng đồng để mưu cầu hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh. Cho dù gặp sự ngang trái, mâu thuẫn, hoặc lâm vào cảnh bế tắc, con người võ đạo vẫn biết “vật cùng tắc biến”, hóa giải các mâu thuẫn bằng nguyên lý cương nhu phối triển. Cho nên có thể nói cây tre là bài học đầu tiên để nắm các yếu lý của võ thuật.
Với các phẩm tính có một không hai, cây tre chứa đựng những hình ảnh sinh động bao gồm đầy đủ tính âm dương, cương nhu và luôn hữu dụng cho con người. Hào hùng, khoáng đạt song cũng hết sức khiêm cung, bình dị và đầy lòng yêu thương… cũng là nét văn hóa đậm tính cách dân tộc mà cây tre là một biểu tượng điển hình của tinh thần nhân hòa và nguyên lý cương nhu phối triển.
Trích tiểu luận võ học của võ sư Nguyễn Văn Sen
Trong văn chương bình dân, cây tre là hình ảnh thân thương bất khả phân ly, gợi lên bổn phận và trách nhiệm gánh vác gia đình, non nước của người làm trai.
Theo quan niệm của người phương Đông, tre, trúc tượng trưng cho mẫu người quân tử. Cứng mà mềm mại, đổ mà không gãy, lòng rỗng không, biểu trưng cho tinh thần và khí độ an nhiên tự tại, không mê đắm quyền lợi, vật chất. Tre, trúc biểu lộ tính cách của dân tộc Việt, một dân tộc có tiết tháo, phẩm hạnh và kiêu hùng, ngoan cường nhưng hiếu hòa, độ lượng.
Ngay từ thời dựng nước, cây tre đầu làng vốn gần gũi, thân quen, thoáng chốc trở thành vũ khí lợi hại có đủ tính cương nhu, giúp cậu bé làng Gióng đánh tan giặc Ân, sau khi chém gãy cả thanh gươm sắt.
Dân tộc ta đã biết sử dụng tre làm công cụ giữ nước, với các vũ khí lợi hại như cung, nỏ, bàn chông, tầm vông vạt nhọn… Và những tiếng nổ kinh hồn của hàng loạt pháo tre đã làm quân thù bạt vía trên chiến trường, hay góp vui trong ngày hội liên hoan thắng trận.
Không như hầu hết các loại cây chỉ đứng riêng lẻ một mình, tre luôn mọc thành bụi, có gốc liền gốc, rễ đan rễ, thể hiện tính quần tụ, kết đoàn, tạo thành sức mạnh khó lay chuyển. Câu chuyện một người bẻ dễ dàng từng chiếc đũa tre, song không thể bẻ gãy cả bó được minh chứng.
Thân tre thẳng và cao mà không bị đổ là do thớ tre dẻo và thân tre mềm dễ lượn theo chiều gió. Với đặc tính phối hợp cương nhu để đón gió, thuận theo gió vừa đủ rồi ngạo nghễ vươn lên trở lại hình dáng cũ – một đặc tính độc đáo chỉ có ở cây tre. Dưới những trận cuồng phong, tre chỉ chịu tróc gốc cả bụi chứ không bao giờ chịu gãy ngang thân…
Tính chất nổi bật nhất trong cây tre tương ứng với kỹ thuật võ học là càng bị uốn cong và kéo sát bao nhiêu thì sức bật lại càng mãnh liệt, dữ dội bấy nhiêu. Điều này càng thể hiện rõ tinh thần cương nhu phối triển trong nghệ thuật giữ nước của dân tộc Việt. Gặp đối thủ cường bạo, hung hiểm, tạm thời ông cha ta thường lánh đi (nhu) để tránh nhuệ khí ban đầu. Sau đó chờ cho địch lơi lỏng, chểnh mảng việc quân cơ, ta mới tập trung đánh những trận quyết định (cương) hầu giành thắng lợi sau cùng.
Trước những trận đánh quyết định để đảm bảo thắng lợi, chúng ta cần lùi lại để tạo đà thật vững chắc. Lịch sử giữ nước của bao nhiêu triều đại VN đã chứng minh cụ thể điều đó. Với biểu tượng cây tre, dân tộc ta đã nâng việc giữ gìn và bảo vệ đất nước lên hàng nghệ thuật với biết bao kinh nghiệm vô cùng sống động và phong phú.
Tóm lại, cây tre biểu tượng cho một nhân cách, một hoài bão cao thượng. Quần thể tre cho thấy một xã hội thuận hòa kỷ cương “tre già măng mọc”, chứ không phải tranh sống theo kiểu “cây lớn đè cây nhỏ” giành lấy ánh sáng mặt trời.
Bắt nguồn từ các quan điểm trên, các bậc thầy Vovinam Việt Võ Đạo quan sát cây tre ở nhiều góc độ, tư duy về lẽ sinh tồn, thành bại để đúc kết xây dựng một lý luận về vận động võ học, một quan niệm nhân sinh. Từ đó xây dựng một con người võ đạo biết sống yêu thương gần gũi, hòa nhập với cộng đồng để mưu cầu hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh. Cho dù gặp sự ngang trái, mâu thuẫn, hoặc lâm vào cảnh bế tắc, con người võ đạo vẫn biết “vật cùng tắc biến”, hóa giải các mâu thuẫn bằng nguyên lý cương nhu phối triển. Cho nên có thể nói cây tre là bài học đầu tiên để nắm các yếu lý của võ thuật.
Với các phẩm tính có một không hai, cây tre chứa đựng những hình ảnh sinh động bao gồm đầy đủ tính âm dương, cương nhu và luôn hữu dụng cho con người. Hào hùng, khoáng đạt song cũng hết sức khiêm cung, bình dị và đầy lòng yêu thương… cũng là nét văn hóa đậm tính cách dân tộc mà cây tre là một biểu tượng điển hình của tinh thần nhân hòa và nguyên lý cương nhu phối triển.

Trích tiểu luận võ học của võ sư Nguyễn Văn Sen

Đôi nét về Tháp Chàm - Mỹ Sơn

Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 70 km về phía tây nam, cách Trà Kiệu khoảng 10 km về phía tây trong một thung lũng kín đáo.


Mỹ Sơn là thánh địa Ấn Độ giáo của vương quốc Chămpa. Những dòng chữ ghi trên tấm bia  sớm nhất ở Mỹ Sơn, có niên đại khoảng thế kỷ thứ 4 cho biết vua Bhadresvara đã xây dựng một ngôi đền để dâng cúng vua thần Siva- Bhadresvara. Hơn hai thế kỷ sau đó, ngôi đền đầu tiên được xây dựng bằng gỗ đã bị thiêu huỷ trong một trận hỏa hoạn lớn.


Vào đầu thế kỷ thứ 7, vua Sambhuvarman đã xây dựng lại ngôi đền bằng những vật liệu bền vững hơn, còn tồn tại đến ngày nay. Các triều vua sau đó đều tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền tháp mới để dâng lên các vị thần của họ.


Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của Vương quốc Chămpa. Những đền thờ chính ở Mỹ Sơn thờ một bộ Linga hoặc hình tượng của thần Siva – Ðấng bảo hộ của các dòng vua Chămpa. Vị thần được tôn thờ ở Mỹ Sơn là Bhadrésvara, là vị vua đã sáng lập dòng vua đầu tiên của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ 4 kết hợp với tên thần Siva, trở thành tín ngưỡng chính thờ thần – vua và tổ tiên hoàng tộc.


Vào năm 1898, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một học giả người Pháp tên là M.C Paris. Vào những năm đầu thế kỷ XX này, 2 nhà nghiên cứu của Viễn thông Pháp là L.Finot và L.de Lajonquière và nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học H. Parmentier đã đến Mỹ Sơn để nghiên cứu văn bia và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm. Cho đến những năm 1903-1904 những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn đã được L.Finot chính thức công bố.


Tiền thân của quần thể kiến trúc Mỹ Sơn cổ kính này, theo căn bia để lại là một ngôi đền làm bằng gỗ để thờ thần Diva Bhadresvera. Nhưng đến khoảng cuối thế kỷ VI, một cơn hoả hoạn đã thiêu cháy ngôi đền gỗ. Bức màn lịch sử đã được các nhà khoa học vén dần lên thông qua những bia ký và lịch sử nhiều triều đại xưa cho ta thấy Mỹ Sơn là khu thánh địa quan trọng nhất của dân tộc Chăm suốt từ cuối tế kỷ IV đến thế kỷ XV. Bằng vật kiệu gạch nung và đá sa thạch, trong nhiều thế kỷ người Chăm đã dựng lên một quần thể kiến trúc đền tháp độc đáo, liên hoàn: Ðền chính thờ Linga-Yoni biểu tượng của năng lực sáng tạo. Bên cạnh tháp chính (Kalan) là những tháp thờ nhiều vị thần khác hoặc thờ những vị vua đã mất. Mặc dù thời gian cùng chiến tranh đã biến nhiều khu tháp thành phế tích nhưng những hiện vật điêu khắc, kiến trúc còn lại cho đến ngày nay vẫn còn để lại những phong cách giai đoạn lịch sử mỹ thuật dân tộc Chăm, những kiệt tác đánh dấu một thời huy loàng của văn hoá kiến trúc chămpa cũng như của Đông Nam Á
Mỗi thời kỳ lịch sử, kiến trúc mang phong cách riêng, cũng như mỗi đền tháp thờ những vị thần, những triều vua khác nhau tạo nên đường nét kiến trúc đầy dấu ấn, nhưng nhìn chung tháp Chàm đều được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác, chia làm 3 phần: Ðế tháp biểu hiện thế giới trần gian, vững chắc. Thân tháp tượng hình của thế giới thần linh, kỳ bí mê hoặc. Phần trên cùng là hình người dâng hoa trái theo nghi lễ hoặc hình cây lá, chim muông, voi, sư tử… động vật gần gũi với tôn giáo và cuộc sống con người.


Theo các nhà nghiên cứu tháp Chàm cổ, nghệ thuật kiến trúc tháp Chàm tại Mỹ Sơn hội tụ được nhiều phong cách; mang tính liên tục từ phong cách cổ thế kỷ VII đến thế kỷ VIII; phong cách Hoà Lai thế kỷ VIII đến thế kỷ thứ IX; phong cách Ðồng Dương từ giữa thế kỷ IX; phong cách Mỹ Sơn và chuyển tiếp giữa Mỹ Sơn và Bình Ðịnh; phong cách Bình Ðịnh… Trong nhiều công trình kiến trúc còn lại khi phát hiện (1898) có tháp cao tới 24m, trong khu vực Tháp Chùa mà các sách khảo cổ, nghiên cứu về Mỹ Sơn có ký hiệu là tháp cổ Chăm Pa, có 2 của ra vào phía Ðông và phía Tây. Thân tháp cao, thanh tú với một hệ thống cột ốp. Xung quanh có 6 tháp phụ, toàn bộ ngôi tháp 2 tầng toả ra như cánh sen. Tầng trên, chóp đá sa thạch được chạm hình voi, sư tử, tầng dưới, mặt tường là hình những người cưỡi voi, hình các thiên nữ thuỷ quái. Nhưng ngôi tháp giá trị này đã bị không lực mỹ huỷ hoại trong chiến tranh, năm 1969.
Sau khi phát hiện ra khu tháp cổ Mỹ Sơn, nhiều hiện vật tiêu biểu trong đó đặc biệt là những tượng vũ nữ, các thần linh thờ phượng của dân tộc Chăm, những con vật thờ cũng như những cảnh sinh hoạt cộng đồng đã được đưa về thành phố Ðà Nẵng xây dựng thành bảo tàng kiến trúc Chămpa. Tuy không phải là nhiều, nhưng những hiện vật này là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tiêu biểu, nó có giá trị văn hoá của một dân tộc, nhưng hơn thế nữa, có là những chứng tích sống động, xác thực lịch sử của một trong những dân tộc trong cộng đồng Việt Nam giàu truyền thống văn hoá.

Cây tre Việt Nam

tre việt nam, vẻ đẹp làng quê Việt
Tre xanh Việt Nam

Tre. Làng tôi quá ư nhiều Tre. Từ khi sinh ra, tôi đã thấy bụi Tre ngay đầu bờ ao trước nhà. Tiếng thân tre ken kẹt xô vào nhau trong gió, hoà vào tiếng ru của mẹ đưa tôi vào giấc ngủ. Lớn chút, những trưa hè tôi thường ngủ dưới tán Tre xanh mướt. Lớn chút nữa, những bụi Tre là nơi tôi tránh nắng của không biết bao nhiêu buổi chăn trâu trên đồi.

Gần  như cây tre đã lẳng lặng đi dọc tuổi thơ tôi. Mọi sự diễn ra bình thường thế, như tự nhiên nó vốn thế, với những đứa trẻ làng tôi ai chẳng vậy, và chắc cả thế hệ anh chị, cô chú, bố mẹ tôi cùng vậy. Ai để ý điều đó làm gì. Nó là hiển nhiên.
Và tôi, nếu không có cái ngày ấy, cây Tre sẽ vô tình đi qua tuổi thơ tôi mà tôi không mảy may suy nghĩ gì cả. Ấy là ngày trên lớp, tôi nghe cô giáo giảng bài Tre Việt Nam của Nguyễn Duy. Cô giảng hay quá. Tác giả viết thật quá. Tôi thấy cảm và dễ hiểu đến lạ thường.
Tre xanh suốt bốn mùa, suốt thời gian mà vờn với gió, mà đùa với trăng. Mặc cho cái nắng quay nắng quắt nứt đất khô người, mặc cho cái mưa lũ tơi bời, gió bão rít từng hồi quằn ngang quằn dọc, cây Tre vươn lên, như thi gan cùng trời đất. Tre bình dị đi vào từng cái rá, cái rổ, thúng, mủng, dần, sàng; từng cái rui, cái mè, cây cột chống hay đơn thuần chỉ là chiếc lạt buộc mềm mà chặt, mỏng mà chắc.
Có lúc ngồi nghĩ vẩn vơ, tôi thấy cây Tre giống con người quê tôi quá. Nghèo khó đấy, lam lũ đấy nhưng vẫn sống hết mình. Sự sống chắt chiu từ những chiếc rễ xơ lên vì len lói dưới đất khô bạc màu để tích tụ dinh dưỡng cho từng chiếc lá mỏng tang, chiếc cành gầy guộc còn mãi vui với điệu tango cùng nắng, cùng gió; để cho những ngọn măng mập mạp nhô lên, mang theo mầm sống mới. Vậy đấy, sự sống vẫn diễn ra, sinh sôi và nảy nở, dẫu cho mảnh đất ấy là thế nào, phì nhiêu hay cằn cỗi. Tre không bao giờ chê đất giàu, đất nghèo.
Tre không như những loài cây khác, ra hoa tạo quả quanh năm hay từng năm một. Tre chỉ ra hoa một lần, sau tám mươi năm, chín mươi năm hay cả trăm năm, rồi lụi tàn và...chết. tre sống hết mình và ra đi một cách lặng lẽ. Những bông hoa Tre kết chùm không màu sắc, không sặc sỡ, cứ khô khô, bàng bạc, xao xác như cái trăn trở với một đời mà Tre đã sống, đã hiến mình.
Nhưng chẳng hiểu sao những năm gần đây, làng tôi chẳng ai bảo ai, nhà nào cũng chặt Tre. Bắt đầu từ những bụi Tre trong vườn, gần nhà đến những bụi Tre ngoài bờ khe, bờ suối, trên đồi. Cái câu “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” của Thép Mới hình như không còn hợp với làng tôi nữa. Người làng bảo: “Tre làm xấu đất, mất chất dinh dưỡng, không trồng thêm được cây gì nữa. Rổ rá bây giờ đã có đồ nhựa. Cột nhà, rui mè được thay bằng bê tông cốt thép”. Thế là những bụi Tre bị phá. Màu xanh trong làng ít hơn. Bóng mát mất dần đi. Cây thì vẫn mọc lên ngày một nhiều hơn. Nhưng là cây cột điện, cây cần ăng-ten. Tôi như thấy làng trần trụi dần, khô không khốc, nhất là những trưa hè oi ả.
Hôm cha bảo: “Hay chặt luôn bụi Tre bên bờ ao trước nhà đi nhé, lá rơi hết xuống ao, vừa bẩn, cá lại không lớn được?” Tôi can: “Đừng bố ạ, tỉa bớt cành ngả xuống ao thôi, để vậy mùa đông bụi Tre còn che gió thốc vào nhà, đỡ lạnh; mùa hè nhìn thấy màu xanh còn có cảm giác mát chứ cứ bê tông thế kia nóng bức lắm”. May thay, bố chiều ý tôi. Giờ đây, mỗi khi vô tình nhìn chiếc lá Tre xoay xoay rơi trong gió đậu xuống mặt ao tôi vẫn thấy thích thú. Nhưng hình như chiếc lá không còn chao liệng nhiều như trước nữa. Tôi không hiểu tại sao. Vì gió? Chắc chỉ phần nào đó thôi. Có lẽ do cây Tre đứng có một mình, đơn điệu quá.

VĂN THÀNH LÊ   '
Lớp Sinh 4B, ĐHSP Huế
Đồng Mọc, 1/2/2008
V.T.L

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2013

Vẻ đẹp Việt Nam xưa qua những tấm ảnh màu quý giá

Những thước phim và những bức ảnh quý báu về Vẻ đẹp của Việt Nam xưa.

Trong thập kỷ 1910-1930, nhà tài phiệt người Pháp Albert Kahn đã cử nhiếp ảnh gia tới khắp 5 châu, ghi lại hình ảnh sinh hoạt của người dân các nước. Họ đã đặt chân tới Việt Nam và lưu lại những hình ảnh, thước phim quý hiếm.

Albert Kahn (1860 – 1940) là một ông chủ nhà băng nổi tiếng người Pháp gốc Do Thái. Ông cũng được biết tới là người từ tâm và có đam mê đặc biệt với các vấn đề văn hóa – giáo dục trong giới kinh doanh lúc bấy giờ. Khoảng những năm đó ông cũng đã có mặt tại Việt Nam.

 Đây là một tài sản quý giá bởi ở thời kỳ này người ta vẫn chủ yếu chụp ảnh đen trắng và những tác phẩm ảnh màu dưới đây là những bức hình hiếm hoi ghi lại cuộc sống từ những thập niên xa xôi 1910-1930 bằng những hình ảnh, thước phim màu.



Các bức ảnh ấn tượng của nhiếp ảnh gia Albert Kahn tại Việt Nam trong khoảng những năm 1915 - 1921:



vẻ đẹp việt nam, ảnh đẹp việt nam
Bà đồng (1915)

nét đẹp Hà nội, cầu long biên, vẻ đẹp cổ xưa
Cầu Long Biên (1915)

vẻ đẹp làng quê xưa, vẻ đẹp việt
Các hương chức trong ngày hội làng

Vẻ đẹp làng quê, vẻ đẹp xưa, nét đẹp việt nam
Các hương chức hội bàn công việc

nét đẹp văn hóa, vẻ đẹp việt nam
Quan thống sứ Bắc kỳ bên vợ và 4 người con

vẻ đẹp Vịnh Hạ Long, nét đẹp văn hóa
Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long

vẻ đẹp hà nội, văn hóa truyền thống
Phố Hàng Gai

vẻ đẹp Hà nội, hàng thiếc, vẻ đẹp việt nam
Phố Hàng Thiếc

vẻ đẹp thôn quê, nghê thuật việt nam
Những gánh hàng xén

văn hóa việt nam, nghệ thuât
Ông đồ

vẻ đẹp Hà nội, phố tràng tiền, văn hóa hà nội
Phố Tràng Tiền

Vẻ đẹp miền Bắc, nét đẹp nghệ thuật
Quan Bắc kỳ trong phẩm phục nghi lễ

vẻ đẹp sông Hồng, sông Hồng Việt Nam
Một góc sông Hồng

sông Hồng Việt nam, vẻ đẹp Hà nội
Góc khác sông Hồng

phụ nữ hoa, vẻ đẹp Việt Nam
Người phụ nữ Hoa say thuốc phiện

vẻ đẹp văn hóa, nghệ thuật
Hai quý ông đang say thuốc
nét đẹp phụ nữ, vẻ đẹp việt nam
Phụ nữ Việt Nam